Bài viết của học sinh
VẼ ĐẸP NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ KHÁNG
CHIẾN CHỐNG PHÁP
La Lan Thị Thúy – lớp 12B
Việt Nam- một đất nước liên tục hàng ngàn năm không bao giờ
nguôi ngọn lửa chiến chinh. Ngay từ ngàn xưa nhân dân ta đã phải chịu đựng
những năm dài đằng đẵng trong đau thương tang tóc của những cuộc giao tranh
phân định ngôi thứ của giai cấp phong kiến.Rồi cuộc kháng chiến chống pháp lại
nổi lên, hình ảnh người chiến sĩ đã trở thành biểu tượng. Vâng! Một biểu tượng
về cuộc sống, về phẩm chất của con người Việt Nam. Chính vị thế , hầu hết thơ văn
thời kì này đều tập trung ca ngợi vinh danh hình tượng người lính cụ Hồ
Những người lính
trong kháng chiến chống Pháp trước hết là những người ra đi từ nhiều miền quê
nghèo và thuộc nhiều giai cấp khác nhau.Người thì ra đi từ miền quê của những
mãnh ruộng, miếng vườn, những người từ vùng biển đầy nắng, cát:
“Quê
hương anh nước mặng đồng chua
Làng tôi nghèo đấ cày lên sổi đá”
Có những người là nông
dân hiền lành , chân chất, “quanh năm côi cút làm ăn; toan lo nghèo khó”, chưa
quen cung ngựa đâu tới trường nhung”. Cũng có người xuất thân từ tầng lớp tri
thức quen với cuộc sống thị thành, vừa “ Xếp bút nghiên theo việc binh
đao”.Những người chiến sĩ ấy sẵn sàng từ
bỏ tất cả để bước đi vững vàng trên con đường máu lửa:
“
Đoàn vệ quốc quân một lòng ra đi
Nào
có sá chi đâu ngày trở về
Ra đi ra đi bảo
tồn sông núi
Ra đi ra đi thà
chết chớ lui”
Tiếng gọi của hồn thiên sông núi có sứt hút mạnh đối với mọi
tầng lớp nhân dân, đặc biệt là lớp thanh niên trẻ. Họ ra đi với lí tưởng độc
lập tự do .Những con người đẫ hân hoan chào đón cách mạng và bây giờ sẵn sàng
bỏ thân mình để bảo vệ những gì Bác Hồ
đã khẳng định trong lời“Tuyên ngôn” sang sảng hôm nào:
“ Anh đi là để giữ
quê quán minh
Cây đa, bến
nước,sân đình
Lời thề nhớ buổi
mít tinh lên đường
Hoa cau thơm ngát
đầu nương
Anh đi là giữ tình
thương dạt dào”
Phải có tấm lòng yêu nước, người lính trong” đồng chí“ mới rời
quê hương”ruộng nương anh gửi bạn anh cày”, bỏ lại”gian nhà không mặc kệ gió
lung lay”, bỏ lại sau lưng mẹ già, vợ trẻ ,con thơ. Và phải có lòng yêu nước
người lính trong “ Tây tiến” mới tạm gác những trang vở trắng còn in màu mực
tím, tạm rời xa Hà Nội- Thủ đô ngàn năm văn hiến với 36 phố phường, bao vàng so
rực rỡ, tạm xa những người thương với bóng dáng “Kiều thơm” để lên đường ra mặt
trận.
Không có hoa hồng nào mà không có gai.Không có chiến thắng
nào chẳng trải qua gian nan, tranh đấu.Những người lính đã trãi qua muôn vàn
gian khổ, chiệu đựng những cơn ớn lạnh, sương muối, rồi những căn bệnh sốt rét
liên tục hoành hành.Thương lắm những chiến sĩ trong thơ Chính Hữu khi:
“Anh với tôi biết
từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng
trán ướt mồ hôi
Aó anh rách vai;
Quần tôi có vài
mảnh vá
Miệng cười buốt
giá
Chân không
giày...”
Cuộc sống chiến đấu khắc nghiệt và thiếu thốn quá, ngay cả
nụ cười anh cũng trở nên“ buốt giá”. Và ta không khỏi xót xa khi bắt gặp một
chân dung khác thường của đoàn quân” Tây Tiến”:
“ Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Anh ơi! Còn đâu dáng hình thư sinh, thanh tú thuở nào? Gian
khổ của cuộc chiến đã tôi luyện anh thành con người” Dữ oai hùm” để” Bước chân
nát đá muôn tàn lửa bay”. Để anh có sức mạnh vượt qua những hiểm nguy, thử
thách đang đe dọa:
“Sài
Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường
Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc
lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo
hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn
thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà
ai Pha Luông mưa xa khơi”
Hoặc” Chiều chiều oai linh thác gầm
thét
Đêm đêm Mường Hịch
cọp trêu người”
Phí trước còn lắm những gian nan.Nhưng anh nào sợ chi, anh
vẫn lao vào cuộc chiến với khí thế tiến công như nước vỡ bờ:
“
Súng nổ rung trời giận dữ
Người
lên như nước vỡ bờ”
Đó chính là bản lĩnh chiến đấu của quân đội ta:” Trước quân
thù chỉ biết có tiến công” làm nên khí thế hừng hực đấu tranh của dân tộc Việt Nam trong những
ngày khói lửa:
“
Những đồng chí thân chôn làm giá súng
Đầu
bịt lỗ Châu Mai
Băng
mình qua lũy thép gai
Aò
ào vũ bão”
Để rồi sau những trận bom đạn man rợn ấy có anh đã ngã
xuống, nằm lại ngay trên mảnh đất quê hương mình. Lắm lúc ta bật khóc khi đọc
những câu thơ của Quang Dũng:”Rải rác biên cương mồ viễn xứ”.Những nấm mồ nằm
lạnh lẽo lẻ loi, cô độc giữa núi rừng biên giới hoang vu. Nhưng các anh không
buồn đâu! Bởi” Chiến trường đi chẳng tiết đời xanh”. Tư tưởng ấy đã ăn sâu vào
trong tâm trí các anh rồi.Được chiến đấu và hi sinh thân mình bảo vệ đất nước
là một vinh dự đối với người chiến sĩ cách mạng.Họ thấy cần phải sống cho cách
mạng, xả thân vì cách mạng, vì hạnh phúc nhân dân và cao hơn nữa là hạnh phúc
của nhân loại.Người lính cách mạng không ngần ngại hi sinh bản thân để bảo vệ
lí tưởng, bảo vệ sự nghiệp cách mạng:
“Sống đã vì Cách Mạng anh em ta
Chết cũng vì cách
mạng chẳng phiền hà!”
Xác định quan điểm đúng như vậy nên họ coi cái chết nhẹ tựa
lông hồng, chết đi mà như ngủ say trong giắc mộng đẹp mơ về tương lai đầy hi
vọng, chết như vẫn cảm thấy cuộc đời phơi phới. Vì họ hi sinh để Tổ Quốc được
độc lập. Chính họ đã hóa thành núi sông quê ta, làm nên một đất nước Việt Nam anh hùng.
Họ không chỉ dạy cho ta biết sống, bồi dưỡng cho ta tinh
thần chiến đấu kiên cường, bất khuất mà còn dạy cho ta biết yêu, biết ghét.
Tình yêu của những người lính đơn giản và chân thành lắm!
Bởi thế mà:
“Anh
với tôi đôi người xa lạ
Tự
phương trời chẳng hẹn quen nhau”
Cùng chung mục tiêu, chí hướng, chung đơn vị hoạt động.Cuộc
sống chiến đấu gian khổ và khẩn trương đã gắn kết họ lại, xóa bỏ ranh giới sang
hèn, phân biệt giai cấp.Để cùng nhau san sẻ những khó khăn thiếu thốn, để những
đêm đông rét buốt” Nằm cạnh bên nhau chờ giặc tới” họ đã sởi ấm cho nhau, chống
đỡ với từng “cơn ớn lạnh”, truyền cho nhau niềm tin, nghi lực để vượt qua thử
thách.
Đó là tình đồng đội- một thứ tình cảm chỉ trong chiến đấu
mới nảy sinh giữa những người lính, để rồi nó phát triển mạnh mẽ theo chiều dài
cuộc kháng chiến và nó kết họ lại thành những” đôi tri kỉ”. Chính Hữu đã yêu
đồng đội biết bao mới thốt lên câu “Đồng chí”.Một câu thơ chỉ vỏn vẹn hai chữ
nhưng hàm chứa muôn vàn tình cảm yêu thương, là những đêm hành quân bên nhau,
là những khi” Thương nhau chia củ sắn lùi- Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.
Là khi” Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.
Người đọc thấy gì từ cái”Tay
nắm lấy bàn tay” của hai người lính? Cái nắm tay âm thầm ấy đã nói lên tất cả
tình cảm tri âm, tri kỉ của hai người họ thật sự là” Đồng chí” từ cái nắm tay
giản dị ấy…
Nhiều nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp đã thể hiện tình
cảm đồng đội theo mỗi cách khác nhau.Hồng Nguyên miêu tả tình đồng đội trong
bài”Nhớ” như có chút gì khác, thật vui nhộn, đầy tiếng cười:
“Nghỉ
lại lưng đèo
Kề
bên dốc nắng
Kì
hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng
Quờ
chân tìm hơi ấm đêm mưa”
Tình đồng chí ở đây là sự chung hưởng với nhau niềm vui sau
giờ nổ súng, san sẻ với nhau cái lạnh đêm mưa.Giữa những người đồng chí không
có khoảng cách nào dù là nhỏ nhặt nhất.
Còn Quang Dũng lại nói về tình đồng đội ở một góc độ khác
mang bề sâu của thế giới tình cảm đậm chất riêng tư với bài “ Tây Tiến”.Để tiển
đưa người lính vô danh ra đi, Quang Dũng không cần một lời ca ngợi sáo mòn,
không cần đến cả những giọt nước mắt sót thương thường tình, nhưng người đọc
dường như cảm nhận đầy đủ tình đồng đội mà ông đã thể hiện trong toàn bài thơ,
để rồi không khỏi trầm ngâm xúc động:
“Rải
rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi
chẳng tiết đời xanh
Aó bào thay chiếu
anh về đất
Sông Mã gầm lên
khúc độc hành”
Mặc dù khó khăn, hi sinh mất mát, hiểm nguy, cái chết luôn
đe dọa. Nhưng những điều đó không làm chùn bước chân người lính, họ rất lạc
quan, luôn tìm đến niềm vui để sống.
Sau những chặn đường hành quân ròng rã vất vả người lính Tây
Tiến đã có những giây phút giao lưu thỏai mái:
“
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e
ấp
Nhạc về Viên Chăn xây
hồn thơ”
Người lính
đã tìm đến những niềm vui ấy để sống hết mình cho một đời chinh chiến.Một đêm
hội văn nghệ vui tươi nhộn nhịp đầy màu sắc, âm thanh giữa rừng núi Tây Bắc
hoang sơ ,kì vĩ đã cuốn bay những mỏi mệt, nhọc nhằn trước đó.Những anh lính
trẻ hồn nhiên vui tươi bên những cô gái Lào xinh đẹp, ta cảm nhận được từ trong sâu thẳm con người”dữ oai hùm” đó, là
một trái tim yêu tha thiết, một nét đẹp hào hoa mà kiêu dũng của họ.
Chiến tranh tôi luyện họ thành những con người có ý chí sắt
đá, nhưng không thể giết chết trái tim và tâm hồn. Nụ cười lạc quan yêu đời vẫn
rộ lên trên những gương mặt “dãi dầu” sương gió khi các anh tâm tình với nhau:
“Đắng
nớ vợ chưa ?
Đằng
nớ?
Tớ
còn chờ độc lập
Cả
lũ cười vang bên ruộng bắp
Nhìn
o thôn nữ cuối nương dâu”
Thật tươi vui và đầy sức sống. Nếu ta biết rằng họ vừa trải
qua cuộc chiến đấu thì cái “cươi vang” của họ ý nghĩa biết bao. Đọc những lời
thơ này, ta tưởng chừng như họ vừa trải qua một buổi lao động thuần túy. Nhưng
không, đó là “nụ cười kháng chiến” nụ cười sau giờ nổ súng, sau những lần ra tử
vào sinh, sao mà lạc quan tin tưởng và ấm áp nghĩa tình thế?
Giây phút gian lao ngắn ngủi cùng những niềm vui nhỏ bế ấy
như dòng suối mát gột rửa sạch những bụi đường nhuốm trên vai áo xanh bạc màu.
Tâm hồn thi sĩ lãng mạn của người lính như giao hòa cùng thiên nhiên. Giữa cái
lạnh cảu rừng khuya đầy sương muối, các anh đứng cạnh bên nhau hướng đầu súng
thẳng lên bầu trời cao vời vợi, nơi có vầng trăng sáng vằng vặng. Một vầng
trăng muôn đời của đất nước thanh bình, một thứ ánh sáng tràn ngập cả nhân
gian. Người và trăng đã làm nên một bức họa tĩnh mặc: “Đầu súng trăng treo” -
một hình ảnh đẹp sáng ngời trong cảnh gian lao. Nhưng sự lãng mạn ấy nào khiến
họ quên đi bổn phận? bỏ lơi hay buông lỏng tay súng?
Chính những điều đó càng góp phần tăng thêm sức chiến đấu
kiên cường bất khuất của người lính, dù khó khăn gian khổ đến đâu vẫn gắn vượt
qua. Người lính thời kháng chiến chống Pháp đã kế thừa lòng yêu nước sâu sắc từ
bao đời nay của dân tộc Việt, với chí quyết tâm cao độ giành độc lập cho Tổ
quốc . Những phẩm chất ấy được nâng lên toàn diện trong cuộc kháng chiến chống
Mĩ và ngay cả khi đất nước thanh bình. Người chiến sĩ ngày nay vẫn tiếp tục
thừa kế, phát huy những phẩm chất tốt đẹp của anh bộ đội cụ Hồ trong kháng
chiến. Họ có mặt kịp thời đẻ người đồng vượt qua những cơn lũ thế kỉ, vật lộn
với thiên tai giành lại sự sống cho những em bé cụ già. Họ sằn sàng có mặt nơi
đầu sóng ngon gió bảo vệ canh giữ từng tấc đất biên cương hải đảo xa xôi…
Hôm nay đọc lại những vần thơ, thi phẩm thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, ta biết ơn sâu sắc đối với những người lính cụ Hồ đã hiến dâng tuổi
xanh của mình cho sự nghiệp cách mạng. Máu sương cua anh đã tô thắm ngọn cờ Tổ
quốc, để xanh thêm mảnh đất quê hương, để non nước Việt được trường tồn và phát
triển.
Càng mến phục, biết ơn gương chiến đấu hi sinh của người
lính cụ Hồ, những con người đã”Trườn lên trên biển máu” để giành lấy tương lai.
Ta phải làm gì để xứng đáng với sự hi sinh vô bờ bến của họ, để xứng đáng là
lớp người được mang dòng máu anh hùng đang tiếp bước đi lên xây dựng Tổ quốc
thân yêu.
Làm gì đây? Sống thế nào đây? Thanh niên chúng ta phải sống
có lí tưởng, mục đích như những người lính đã sống, quyết tâm học tập, rèn
luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu dũng cảm trên các mặt trận sản xuất, xây
dựng hay văn hóa đời sống…Luôn soi gương anh bộ đội cụ Hồ để học tập và rèn
luyên, quyết đem một phần sức lực nhỏ bé của mình cùng với triệu triệu thanh
niên của đất nước bước tiếp cha anh, viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân
tộc. Hãy sống như họ, như tinh yêu rực cháy của người lính với đất nước, với
nhân dân. Bởi họ là những tấm gương sáng ngời soi đường cho thế hệ chúng ta
bước tới tương lai.
Lịch sử đã lùi xa cùng với những lớp bụi thời gian phủ lên
những vần thơ viết về người lính trong kháng chiến chống Pháp.Nhưng hình ảnh
các anh vẫn còn đó, nét đẹp và phẩm chất đáng quý vẩn không bị phai mờ dù năm
tháng qua đi. Anh bộ đội cụ Hồ vẫn sống mãi với dân tộc Việt nam, sống mãi với
quê hương đất nước. Tượng đài kiêu hãnh của người chiến sĩ công sản vẫn hiên
ngang sừng sững trước phong ba bão táp cuộc đời. Để từ dáng đứng của anh”Tổ
quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.
TP Tuy Hòa những ngày đầu năm 2013