Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Kỷ niệm ngày họp lớp

HẸN TIẾP MÙA SAU
                                   Tặng các bạn lớp 10K
Rất lâu rồi tôi mới lại trường xưa
Vui với bạn bè một thời thơ ấu
Một thời đến trường sương khói mênh mang
Những lối mòn mờ bụi thời gian

Bạn bè cũ vài người không trở lại
vài người cùng kết tóc xe duyên
Ba mươi năm một cuộc đoàn viên
Không ngăn được tiếng reo cười thỏa thích

Quên tất cả nỗi ưu phiền trầm uất
Bạn cùng tôi không thứ bậc sang hèn
Cùng nhau vui như dưới mái trường
Cùng quậy phá cùng nhớ về kỷ niệm

Những bạn trai điểm bạc mái đầu
Vẫn hò hát,vẫn liếc nhìn tình tứ
Những bạn gái sắc hồng quá khứ
Say men, cười tít mắt tiếc đường cong

Thầy cô ơi! xin hãy cảm thông
Chúng con lớn trái chín còn giang dở
Dẫu có bạn đã làm ông chủ
Có bạn sum vầy những chốn phồn hoa

Bài học cuộc đời đâu dễ nhận ra
Cảm ơn bạn những người tổ chức
Cuộc vui đầu đến hồi kết thúc
Thắng lợi nhiều, xin hẹn tiếp mùa sau

                    Tháng 8 năm 2006



Ngày thương binh liệt sỹ

TIẾNG GỌI TÂM LINH

Tết năm 2009 tôi về quê ăn tết.Trước ngày ba mươi xứ Nghệ quê tôi gió mưa tầm tã, hơi lạnh cảm giác như luồn qua các kẽ hở của áo quần thấm vào da thịt.Sáng mồng một tôi xuống đến ga Vinh thì trời chỉ còn lất phất mưa phùn. Từ ngày mồng hai về sau trời vẫn còn âm u nhưng không còn hạt mưa nào nữa.Khoảng từ chín giờ sáng đến hai giờ chiều thi thoảng lại có những ánh nắng vàng nhạt nhưng cũng đủ làm không khí ấm lên, cơ hội cho mọi người đi thăm chúc tết người thân. Nhà mẹ tôi đón gia đình anh Trung ở quê ra chơi. Biết tôi ở Phú Yên, anh Trung rất mừng. Anh kể chuyện anh Ngọc là anh ruột, con đầu của dì Cự.  Năm 1964 học vừa hết cấp ba là anh xung phong đi bộ đội rồi hy sinh năm 1968 tại Hòa Thắng, nhưng mãi đến năm 1976 gia đình mới nhận được giấy báo tử. Đầu năm 2006 lúc này dì Cự tôi rất yếu, dì đã gọi anh Trung lại nói: “Đêm nào dì cũng nằm mơ thấy anh Ngọc nằm bên mương nước đòi dì đem anh về. Nếu anh Trung không đưa được hài cốt anh Ngọc về thì dì không an tâm nhắm mắt”. Nghe đến đây tự nhiên tôi như có một luồng điện lạnh chạy dọc theo sống lưng. Tôi nhớ lại những ngày tôi còn ở khu tập thể trường Trần Quốc Tuấn vợ tôi thường kể nhiều đêm vợ tôi thấy có một người mặt mày lấm lem bùn đất cứ đứng đầu giường nói: “Hà, Hà đưa anh về”. Vợ tôi thức tôi dậy kể lại sự việc. Tôi vốn là giáo viên Toán, tin vào khoa học tự nhiên, với lại thấy vợ tôi ốm yếu nên đã nói:
- Tại em mệt nên có ảo giác như vậy.
   Anh Trung nói với tôi:
- Chú vào trong đó cố gắng tìm, anh cũng sẽ thu xếp vào một chuyến.
   Tôi nhận ở anh Trung hai tờ giấy phô tô của cơ quan quân sự tỉnh Nghệ An thông báo cho gia đình về trường hợp mất tích của anh Ngọc. Lúc này tôi đã chuyển công tác sang trường Lê Trung Kiên, đã ba lần tôi quay về Hòa Thắng tìm hiểu qua chính quyền địa phương qua học sinh cũ nhưng chỉ nghe nói những năm chiến tranh có những ngôi mộ tập thể, rất nhiều bộ đội được bà con chôn cất tử tế nhưng hỏi tên Lê Xuân Ngọc thì không ai biết.
   Tết năm 2011 tôi về thưa chuyện với anh Trung về việc không tìm được mộ. Anh Trung nói:
- Anh đã tìm ra hướng giải quyết, nay ở Nam Đàn có một chỗ tìm mộ liệt sĩ hay lắm.
   Từ Tết đến nay đã hơn sáu tháng tôi  phải chuyển công tác. Công việc bàn giao ở trường cũ nhận nhiệm vụ ở trường mới, rồi chuẩn bị cho các em thi tốt nghiệp mười hai, xét tuyển vào lớp mười,v.v. Tôi quên mất những điều anh Trung đã nói. Mãi đến đầu tháng bảy tôi nhận được điện thoại của chị Trâm vợ anh Trung nói là đã tìm được mộ và nhờ tôi đi giải quyết chế độ trợ cấp di chuyển hài cốt liệt sĩ. Theo lời kể của chị Trâm thì anh Ngọc đã gặp chị, anh trách vợ tôi không tìm gặp anh, trách anh Trung không cho anh về sớm để gặp mẹ. Dì Cự tôi mất năm 2007.
   Cầm tập hồ sơ của anh Trung gửi, tôi đã đến gặp sở lao động thương binh xã hội của tỉnh, họ yêu cầu tôi phải lên cơ quan quân sự huyện Phú Hòa để bổ sung hồ sơ. Rất may lúc tôi lên các thành viên của ban chính trị đều có mặt đông đủ. Cậu Thành là học sinh cũ của tôi người tham gia trực tiếp vào việc tìm kiếm ngôi mộ đã dẫn tôi đến chỗ khai quật. Lúc này là gần mười giờ ánh nắng rất gay gắt nhưng nhờ kênh KN1 đầy nước và các ruộng lúa chạy dọc theo kênh đang thời kì sinh trưởng, những chiếc lá xanh non lất phất trước gió khiến tôi cảm thấy rất mát mẻ. Mộ của anh Ngọc nằm bên bờ ruộng cách bờ kênh khoảng năm mét. Theo lời của cậu Thành phải đến sau bảy người đào từ sáu giờ sáng đến mười một giờ trưa và sâu đến hai mét mới tìm được hài cốt. Nhìn cái hố sâu nay đã ngập nước với những cỏ rác của nông dân làm ruộng trôi vào, bất giác tôi nhớ đến hai câu thơ của Hữu Thỉnh về người anh trai của mình:
Anh không giữ cho mình dù chỉ là ngọn cỏ
Đồi thì rộng anh không vuông đất nhỏ.
Tôi nhớ lại hình ảnh của dì Cự tôi trước lúc ra đi gọi tên anh Ngọc và lời dặn dò của dì với anh Trung.
      Tôi có hai người thân một người là cậu Hóa con của ông cậu em bà ngoại tôi, một người là bác Thiết  cạnh nhà tôi ở thành phố Vinh. Hai người đều vào sinh ra tử ở chiến trường Phú Yên những năm chống Mỹ. Cậu Hóa  là thương binh chiến đấu ở Sơn Hòa bị địch bắt năm 1968, bị đày ra Côn Đảo, đến năm 1973 mới được trao trả. Bác Thiết bị thương cụt một chân tại một trận đánh ở núi Sầm Hòa Trị. Cả hai người đều rất quý mến Phú Yên đều ca ngợi tấm lòng của nhân dân che chở đùm bọc những lúc khó khăn gian khổ. Năm 2005 câu Hóa quay lại thăm chiến trường xưa. Cậu mừng cho tôi đã được công tác và trưởng thành ở Phú Yên.
  Chắc vong linh của anh Ngọc cũng  đồng cảm với cậu Hóa và bác Thiết .
                                                         Tuy Hòa  tháng 7 năm 2011
                                               NGÔ MINH HÒA



Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

CON MỘT LÒNG XIN MẸ


                                                                                     Ngô Minh Hòa


Tháng tám nắng rắc vàng sườn núi
Chim Chơ Rao chao chác gọi bầy
Cha đốn củi lưng đầy muỗi vắt
Mẹ dầm mình nắng gắt ban trưa

Con chưa hiểu chưa đỡ đần cha mẹ
Chưa làm vui lui bớt nhọc nhằn
Chưa thể hái chưa làm nên quả
Như chim non con bước vào đời

Được đến lớp được về phố biển
Nơi yêu thương bè bạn xa gần
Nhiều dân tộc và người nhiều huyện
Con ngỡ mình bạn cũ tình thân…

Không tiếng sáo, chiêng cồng thôi thúc
Con hóa thành ca sĩ Y Moan
Không đàn Tính  tiếng Then còn gãy khúc
Váy em xòe, khuôn ngực trăng non
 
Đêm hội trại con mơ về cổ tích
Chàng Đam San chiến thắng nữ thần
Hồn dân tộc hóa hồn đất Việt
Em hát bài ơn Bác làng Chăm…
Tiết mục HêLen lên rẫy của lớp 10A
 



Năm tháng qua đi kỷ niệm xa xăm
Ai có thể làm thời gian ngừng lại
Có ai bảo học trò vụng dại
Nụ hoa đầu em giữ vẹn nguyên

Con đã đi xa khắp chốn khắp miền
Vẫn nhớ về trường, nhớ thầy cô, nhớ lớp
Nhớ dáng hình em, nhớ lời em hát
Con một lòng xin mẹ, mẹ ơi.
         (tháng 8 năm 2010 kỷ niệm 20 năm thành lập trường)






















Thứ Hai, 21 tháng 11, 2011

Báo Phú Yên cuối tháng 11-2011


THIỆN TÂM CỦA THẦY GIÁO

 Ngày 28/9/1982 Chính phủ ban hành quyết định 167/NĐ-CP lấy ngày 20/11 là ngày nhà giáo Việt Nam . Ngày các cấp Đảng và chính quyền, hội Cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội quan tâm đến các thầy, cô giáo. Đó là văn bản mang tính pháp định về ngày nhà giáo.
Tuy nhiên đối với dân tộc Việt Nam với truyền thống tôn sư trọng đạo có từ thời xa xưa. Có thể nói nôm na là: Tôn sư là tôn kính thầy giáo, tôn trọng đạo lý. Coi trọng việc học. Chính vì vậy mà cách đây hàng ngàn năm từ thời nhà Lý chúng ta xây dựng Văn miếu Quốc Tử Giám. Vừa là trường Đại học đầu tiên của cả nước vừa là nơi thờ “Khổng tử” người thầy của đạo Nho. Còn các bia đá là khắc ghi những người học giỏi đỗ đạt tiến sĩ, tài năng và đức độ.  Lịch sử còn ghi danh các thầy giáo như thầy Chu Văn An người thầy đầu tiên của nền giáo dục Việt Nam vào thời nhà Trần chuyên dạy chữ Nho ở trường Quốc Tử Giám cho con Vua và các vị quan lại trong nước. Thầy đã từng dâng tờ“Thất trảm sớ” xin vua chém bảy tên nịnh thần phản dân hại nước với mong muốn Hưng quốc An dân. Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm: Người thầy toàn diện với lời sấm: “Hoành sơn nhất đai vạn đại dung thân” (tức là một dải Hoành sơn có thể gây dựng cơ nghiệp được vài trăm năm), giúp đoan quận công Nguyễn Hoàng (sau này là chúa Nguyễn) đưa quân vào phía Nam, mở phủ Phú Yên và các đời hậu thế tiếp tục mở mang bờ cõi. Thầy Nguyễn Thiếp đã giúp vua Quang Trung mưu đồ cơ nghiệp. Thầy Nguyễn Đình Chiểu dù đui mà giữ đạo nhà:         
Chở bao nhiêu đạo Thuyền không khẳm
                          Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Đặc biệt thầy giáo Nguyễn Tất Thành là Bác Hồ kính yêu đã từng dạy học ở trường Dục Thanh Phan Thiết. Bác là người thầy lỗi lạc của dân tộc Việt Nam với phương pháp dạy học đặc sắc: đi vào cái cụ thể thiết thực giúp học sinh đạt hiệu quả cao trong thời gian ngắn nhất. Và biết bao nhiêu thầy giáo trong suốt chiều dài lịch sử có thầy là quan thanh liêm như thầy Nguyễn Khuyến . Có thầy là nhà lãnh đạo Cách mạng như: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyễn Giáp và rất nhiều thầy giáo đã anh dũng hy sinh trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc.
Dân gian ta thường ví nghề thầy giáo như người đưa đò. Mỗi lớp học sinh đi qua là một Chuyến đò. Có người thành danh, thành đạt cũng có người trở về với một nắng hai sương. Và con người sinh ra thì phải đi học,  ai cũng từng nghe tiếng ru ầu ơ của mẹ đó là quy luật của muôn đời:
Ai không qua một Chuyến đò
Ai không thương cảm câu hò mẹ ru.
(Ngô Minh Hòa)

    Thế nhưng nghề thầy giáo cũng có cái vất vả, cái khó nhọc của người làm thầy. Áp lực về học trò về những lỗ hỏng kiến thức của một số em khó lòng lấp đầy lên được nhất là khi chấm bài kiểm tra gặp nhiều bài yếu kém cảm thấy hụt hẫng.


Từng chồng bài chấm xếp đầy
Chấm xong tóc bạc rụng đầy trang văn.
(Thái Dương Liễu)

        Biết vậy nhưng các nhà giáo vẫn tâm huyết hết lòng thương yêu học trò.  Trong cuộc hội thảo về đổi mới phương pháp giảng dạy tại trường PT/ DTNT tỉnh có rất nhiều ý kiến cho rằng:Không nên nhìn học trò qua lăng kính của bộ môn mình và đòi hỏi quá khắt khe về họ. Phải đối xử với các em bình đẳng và động viên các em học .   
        Cuộc vận động học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh do Đảng ta chỉ đạo đến nay vừa tròn 5 năm.Nếu nhìn những thành quả đạt được của đất nước và nếu quan niệm yếu tố quyết định là con người thì không ai phủ nhận sự đóng góp của ngành Giáo dục –Đào tạo, của các thầy cô giáo.Nhưng nếu chúng ta hình dung dư luận của đời sống xã hội giống như mặt biển khi nào cũng gợn sóng lao xao thì Giáo dục- Đào tạo là vùng biển ồn ào dữ dội nhất.Những giải pháp về đổi mới chương trình,về thay sách giáo khoa, đổi mới phương pháp, về đổi mới thi cử, về chiến lược đến năm 2020,v.v.Vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau.
        Có một điều mà các thầy giáo xưa làm được, trong những năm chiến tranh chúng ta làm tốt, đến nay trong phát biểu của các đồng chí lãnh đạo ngành ,các cuộc vận động của Công đoàn Giáo dục- Đào tạo cũng thường nêu ra đó là phẩm chất ,là cách đối xử của nhà giáo với học sinh.Thiết nghĩ đó chính là thiện tâm của nhà giáo.Nếu có thước đo được sự trăn trở của thầy giáo khi chấm bài và các giải pháp khắc phục,nắm bắt được cách đối xử công bằng, lòng nhân ái của thầy giáo với học sinh và có ý kiến khen chê đúng mực.Tổng quát hơn là trong cách đánh giá nhà giáo cần chú trọng về chữ “Tâm” như cụ Nguyễn Du từng dạy: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.Đối với các thầy cô giáo có lẽ đó cũng là tiêu chí quan trọng nhất trong cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nếu làm được vậy chắc chắn  sẽ giảm đi rất nhiều học sinh yếu kém và sẽ không còn hiện tượng giáo viên bắt ép học sinh học thêm.Hệ quả là sẽ giảm đi rất nhiều dư luận không tốt về Giáo dục –Đào tạo.
                                                         Tháng 11 năm 2011
                                                             Ngô Minh Hòa


Mùa mưa năm 2011




ĐÔNG HÒA SAU MÙA LŨ


                Bút kí

Mùa lũ ở Đông Hòa năm nay đến muộn hơn mọi năm. Phải đến những ngày đầu của tháng 11 dương lịch mới có những trận lụt lớn. Dù đến muộn nhưng nhiều người vẫn nói rằng lụt năm nay rất lớn và kéo dài, xấp xỉ đạt đỉnh lũ của năm 1993. Nhìn những cánh đồng chạy dọc theo Quốc lộ 1A từ bùng binh Phú Lâm đến chân Đèo Cả  chỉ thấy mênh mông là nước. Thật không may cho những chú chim nào trong những ngày lũ lụt phải bay qua cánh đồng muốn tìm một chỗ để đâụ. Tất cả bờ vùng, bờ thửa đều bị ngập lụt, kể cả các trục đường lớn của huyện cũng bị sạt lỡ gần 20km. Xã Hòa Tâm năm trước cơn bão số 6 đã thổi bay đi hàng chục ngôi nhà, năm nay Hòa Tâm lại phải oằn mình lên để chống chọi với lũ. Trên 19,11 tỉ đồng là con số tổng thiệt hại của huyện Đông Hòa. Thương đau nhất là 3 người bị nước lũ cuốn trôi, hàng ngàn hộ dân tất cả sản nghiệp đều đổ vào hồ nuôi tôm nay trở thành trắng tay, gánh nặng nợ nần, hàng trăm triệu đồng biết đến bao giờ mới trả hết. Con số cụ thể là 8148 hộ dân với 23527 nhân khẩu cần cứu đói, các đồng chí lãnh đạo Huyện còn phải đau đầu để tìm phương án giải quyết. Thế nhưng, trong cái rủi cũng có cái may, các trường học của Đông Hòa năm nay lại không bị thiệt hại gì nhiều và không có học sinh nào phải bỏ học vì gia đình bị ngập lụt hoặc thiếu ăn, thiếu mặc. Về thăm Phòng Giáo dục Đông Hòa, chúng tôi được các thầy cô giáo vui vẻ kể lại: nói đến giáo dục, văn hóa, văn nghệ là anh Sáu Long “chịu chơi” lắm. Anh luôn hết mình vì giáo dục. Sợ chúng tôi không tin, thầy Chánh trưởng phòng Giáo dục nói thêm: về xây dựng cơ sở vật chất và xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia có thể nói Đông Hòa là số một. Toàn tỉnh chỉ có 13/96 trường THCS đạt chuẩn Quốc gia thì Đông Hòa đã có 6/10 trường, chiếm gần một nửa của tỉnh. Mười một trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia, chiếm 50% số trường tiểu học của Đông Hòa.Đặc biệt, toàn tỉnh chỉ mới có một trường THPT duy nhất đạt chuẩn Quốc Gia cũng thuộc về Đông Hòa. Không những đạt chuẩn Quốc Gia mà trường THPT Lê Trung Kiên còn được nhận Huân chương lao động hạng Ba của Chủ tịch Nước trao tặng trong ngày 19/11/2010. Công tác xã hội hóa giáo dục, huy động sức dân xây dựng các trường học Đông Hòa đã có kinh nghiệm từ những ngày còn ở chung huyện Tuy Hòa. Đến nay, hầu hết các trường THCS đã được kiên cố hóa, 9/10 xã có trường THCS 2 tầng, chỉ còn xã Hòa Tâm nằm trong vùng dự án phải di dời nên không thực hiện. Với kết quả trên, với trách nhiệm là Chủ tịch, chủ tài khoản của Huyện, trong nhiệm kì trước, nay là Bí thư thì các thầy cô giáo đã hiểu được tâm nguyện của Anh Sáu.
Tạm biệt thầy Chánh và các thầy cô giáo, chúng tôi đến thăm một số hộ gia đình của xã Hòa Tâm bị ngập lụt năm nay. Nhìn các vật dụng trong nhà còn loang lổ những vết ẩm mốc mới được sắp xếp lại, với ánh mắt đượm buồn và nét mặt còn hằn lên những vết lo âu của chủ nhà chúng tôi rất ái ngại. Thế nhưng, khi chúng tôi hỏi về công tác cứu trợ thì họ rất vui vẻ. Là một Huyện trong hai năm 2009 và 2010 bị thiệt hại khá nặng về thiên tai. Thắng lợi của Đông Hòa là giữ được lòng tin của dân. Năm trước, việc giải quyết các khoản cứu trợ còn có những điều sơ suất, năm nay, người dân đã rất phấn khởi. Đồng chí Tuấn Anh, Chánh Văn phòng Huyện ủy còn cho chúng tôi biết: Đông Hòa đã tổng kết 4 năm Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có 22 tập thể và 40 các nhân được khen thưởng. Trong số đó có những đồng chí là Bí thư, Phó Bí thư, Chủ tịch UBND các xã, có những đồng chí đã đội mưa đội gió cùng với nhân dân tìm cách chống đỡ với bão lụt như các xã Hòa Tâm, Hòa Vinh, Hòa Xuân Tây. Anh còn hồ hởi nói: cứ nghĩ là lũ lụt như vậy thì các chỉ tiêu kinh tế đạt được của Đông Hòa năm nay sẽ không vượt qua được năm 2009. Thực tế, các ngành sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ đều tăng trên 19%. Chỉ có ngành nông – lâm – ngư nghiệp so với năm 2009 tăng ít hơn, nhưng cũng vượt trên 9%.
Rời khỏi mấy hộ gia đình bị ngập lụt ở xã Hòa Tâm chúng tôi đi về phía con đường Phước Tân – Bãi Ngà. Đập vào mắt chúng tôi trước tiên là khu tái định cư của xã Hòa Tâm phục vụ cho dự án nhà máy lọc dầu được quy hoạch và xây dựng mang dáng dấp một khu phố mới của Thành phố Tuy Hòa. Đây là con đường được mệnh danh là “nữ hoàng sắc đẹp” của Đông Hòa. Một bên là màu xanh thẫm của biển cả, được điểm tô bởi các nét chấm phá của màu sắc các tàu thuyền đánh cá khi xanh, khi đỏ, khi vàng. Một bên là màu xanh của cây cối với núi non hùng vĩ. Thỉnh thoảng chúng tôi còn nhìn thấy những cây sộp cành lá xum xuê, đây là loại cây hiện nay được nhiều người ưa thích và chọn làm cây cảnh. Thầy Toàn giáo viên trường Lê Trung Kiên nói với chúng tôi, rừng ở đây còn nhiều cọp lắm. Tôi nghĩ loài thú ăn thịt dữ dằn này nay đã trở thành một loài động vật quý hiếm. Cách đây khoảng ba bốn mươi năm thì thầy Toàn nói đúng. Ngày đó còn truyền tụng câu thành ngữ: “cọp Khánh Hòa, ma Bình Định” mà ở đây thuộc vùng giáp ranh giữa Khánh Hòa và Phú Yên. Hồi nhỏ, tôi cũng từng được nghe kể chuyện  có chiến sĩ bộ đội của ta bị cọp tấn công phải chạy quanh cây cổ thụ để tìm cách đánh lại. Nay thì sự khai thác rừng cùng với sự phát triển dân cư quá mạnh, nếu còn cọp chúng cũng lên Tây Nguyên hết rồi. Từ con đường này, chúng tôi đứng ngắm Mũi Điện, mọi người đều rất thán phục sự kì diệu của thiên nhiên. Cạnh Mũi Điện là cảng Vũng Rô, một địa danh gắn liền với các chuyến tàu không số chi viện cho Miền Nam đã đi vào lịch sử dân tộc. Tương lai cảng Vũng Rô có thể là một cảng thương mại không chỉ riêng cho Phú Yên, mà còn cho các tỉnh phía nam Miền Trung và Tây Nguyên.
Chừng khoảng ba giờ chiều, chúng tôi lên đến đỉnh của con đường rẽ từ Quốc lộ 1A đến cảng Vũng Rô, ngước nhìn ngọn núi Đá Bia đã bị mây mù che khuất gần hết một nửa càng tăng thêm vẻ đẹp huyền bí. Tôi đã từng được nghe anh Tường Văn ở Đài phát thanh Phú Yên đọc mấy câu thơ của Bình Nguyên Chương nói về cảnh đẹp ở đây:
“Có một Đá Bia bên chân Đèo Cả
Mượn nước Biển Hồ làm ánh gương soi
Mượn nắng Vũng Rô đi vào hoa cỏ
Thăm những ngôi trường rộn rã niềm vui”
Đến nay, sau lũ lụt,đứng giữa lưng chừng đèo thấy được cảnh sắc thiên nhiên, cảm nhận được sức trỗi dậy của Đông Hòa tôi mới thấm thía  hết ý nghĩa của câu thơ.
Mặt trời gần khuất dãy núi phía xa.Chúng tôi quay về bến cảng, cũng là lúc các thuyền đánh cá bắt đầu cập bến. Các cô gái là người nhà của ngư dân vội vã quang gánh đi ra. Gió từ biển thổi vào khá mạnh, làm các mảng quần áo phía trước như dán chặt vào người các cô, hiện rõ khuôn ngực tròn đầy và cặp đùi chắc lẵn. Anh Huyền, Biên tập viên của Đài truyền thanh Huyện quay lại nói vui với thầy Toàn: Người ta bảo  “gái La Hai” nhưng em thấy gái Vũng Rô cũng đẹp đấy chứ. Nếu có công ty du lịch tổ chức cho các cô làm việc thì cũng có thể hái ra tiền. Trong tôi chợt nghĩ: Đông Hòa quả là một vùng quê thật giàu tiềm năng.

                                                                               Ngô Minh Hòa

Tạm biệt Lê Trung Kiên

ANH TRỞ VỀ
Thôi thế là anh đã mãi xa
Cả ngọn gió cũng thành nỗi nhớ
Ước mong nào dự định nào dang dỡ
Khép lại rồi nối tiếp người sau


Anh trở về không phải lỗi gì đâu
Không day dứt tình người dâu bể
Đã qua rồi một thời trai trẻ
Nắng sân trường thương áo em bay


Anh trở về chợt tỉnh ,chợt say
Không dấu được tiếng lòng xao xuyến
Nơi anh đến có khi nào em đến
Ánh  nhìn nào còn dấu bóng hình anh


Anh trở về hạnh phúc có mong manh
Chiều mây phủ hay bình minh rực rỡ
Hàng phượng vĩ cây bàng lá đỏ
Anh mơ về một khoảng trời em


Anh trở về đường phố thân quen
Kỷ niệm về em anh thường thầm nhắc
Tình yêu em, tình người tình đất
Lắng tim anh vỗ nhịp liên hồi./
                               Đông Hòa tháng chạp năm 2010
                                          Ngô Minh Hòa

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2011

Chú ba

CHÚ BA
                                                                                           Bút ký


“Ai đi về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng”.
          Câu thơ của cố thi sĩ- chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ người con của miền Đông Nam Bộ. Mỗi khi câu thơ ấy cất lên là lòng tôi- một người con xa quê, mỗi buổi chiều tà nhìn về phương Bắc lại nhớ đến nao lòng cái xóm nhỏ thân yêu ven con sông Lam hiền hòa, êm dịu. Câu thơ trên, có lẽ cũng là tâm trạng chung của người Việt ở phía Nam khi sắp đến ngày giỗ tổ Hùng Vương và một nghìn năm Thăng Long-  Hà Nội. Đó chính là ước mơ được một lần đến thăm đền Hùng, thăm Lăng Bác.
          Thật diệu kì, lịch sử nhân loại hầu như không có một dân tộc nào, một đất nước nào nhỏ bé mà kiên cường như dân tộc Việt. Không một vị lãnh tụ nào được nhân dân trong nước và cả thế giới ngưỡng mộ và khâm phục như Bác Hồ. Tôi nghĩ sự phát triển, sự lớn mạnh cả về tốc độ và tầm vóc của nền kinh tế và văn hóa xã hội ở nước ta trong những năm gần đây phải chăng là sự thức tỉnh, sự tiếp nối truyền thống và phải chăng đó là kết quả của cuộc vận động và học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh- một con người, một cuộc đời như huyền thoại. 
Thật vậy, đất nước Việt Nam sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, cái nghèo đeo đẳng là tất yếu. Bên cạnh đó là sự cấm vận của các thế lực thù địch, sự chậm đổi mới tư duy kinh tế dẫn đến nhiều năm sau giải phóng không riêng gì các nước có nền kinh tế phát triển, các nước thuộc thế giới thứ 3 không dám đầu tư vào Việt Nam mà cả các nước láng giềng, các nước anh em cũng do dự. Đến nay, sau 20 năm đổi mới chúng ta đã là đối tác làm ăn tin cậy của hầu khắp các nước trên thế giới. Cùng với sự tô điểm của cơ sở hạ tầng và sự mở rộng giao lưu văn hóa, sự ổn định của đời sống chính trị và an ninh quốc phòng, Việt Nam đã trở thành địa chỉ hấp dẫn với du khách và được sự tin tưởng của nguyên thủ các quốc gia. Một minh chứng rất thuyết phục là hầu hết người Việt ở trong nước cũng như ngoài nước, những người trước nay một lòng một dạ theo Đảng và cả những người từng làm cho chế độ bên kia đều công nhận Việt Nam có rất nhiều tiến bộ, đều phấn khởi về sự đổi mới của Đảng, đều hướng về Tổ quốc.
          Mang theo những cảm nhận và suy nghĩ trên, Tôi đã đến Đông Hòa- một huyện mới thành lập cách đây hơn 5 năm, được coi là một trong những địa phương tham gia tích cực vào quỹ đạo phát triển của đất nước. Tôi đã đi dọc theo Quốc lộ 1 thuộc địa phận xã Hòa Vinh, nhìn các tòa nhà cao tầng mang dáng dấp một phố thị. Tôi đã rẽ từ ngã ba Phú Hiệp đi về phía Đông Nam thấy các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cảm nhận được sự sôi động của một tiềm năng kinh tế. Tôi tự hỏi mình: sự thấm đẫm của việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh, sự đơm hoa kết trái của quá trình học tập Người đã diễn ra thế nào ở Đông Hòa?
Trong một dịp tham gia sinh hoạt với trường Lê Trung Kiên một trường THPT thuộc thị trấn, thầy Công chủ tịch công đoàn đã nêu cho tôi một ý tưởng: Những người sinh ra và lớn lên trong suốt chiều dài của hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, thấy được sự hi sinh gian khổ của các chiến sĩ và cũng từng trải nghiệm những đau thương do cuộc chiến tranh để lại sẽ là những người có cách nhìn nhận, đánh giá chính xác nhất về sự thành công của công tác giáo dục chính trị tư tưởng qua hai thời kì: những năm chiến tranh và hiện tại. Với ý tưởng này, tôi đã điện thoại cho anh Sáu Thính hội trưởng Hội cựu chiến binh huyện Đông Hòa, được anh giới thiệu gặp chú Ba Sinh.
Từ Phú Lâm, xe chúng tôi băng qua cánh đồng Phước Lộc của Đông Hòa dài chừng 5km, chứng kiến vẻ đẹp của cánh đồng, tôi liên tưởng đến bài hát “ Tiếng hò trên đồng lúa Tuy Hòa” sáng tác Hoàng Thơ Huy – Vũ Trung Uyên. Hiện đang là những ngày chuẩn bị thu hoạch lúa vụ ba, nhìn những bông lúa đã chín rục đan xoắn lấy nhau, thỉnh thoảng có một cơn gió mạnh thổi đến các bông lúa như muốn đè lên nhau, lớp này đến lớp khác, trải dài nhấp nhô như sóng biển. Từ Quốc lộ 1, chúng tôi rẽ xuống ngã ba đi Hòa Hiệp với địa chỉ là ông Lê Văn Sinh- Cựu chiến binh- Thôn 3- Hòa Vinh. Đi loanh quanh 3, 4 cái hẻm và phải hỏi đến 3 người thì chúng tôi mới đến được nhà của chú.
Lúc này đã hơn 4 giờ chiều. Ngoài đường ánh nắng vẫn còn khá gay gắt, thế nhưng cái khoảng sân nhà chú đã bị bóng của mái nhà, tán cây che khuất. Chú đang còn hốt lúa cho vào các bao tải. Những hạt lúa khi ở ngoài đồng, trên xe nhìn xuống chỉ thấy một màu vàng lấp loáng. Nay nhìn tận nơi mới thấy được chúng căng tròn, dài và vỏ rất mỏng khác với hạt lúa của quê tôi trước đây. Chú Ba đang cúi gập lưng xuống để hốt lúa vào thúng. Đã ngoài 70 tuổi nhưng nhìn bắp chân và tấm lưng trần màu da sẫm hồng lấm tấm mồ hôi, cảm giác cơ thể chú vẫn còn rắn chắc lắm. Khi chú ngẩng lên để trút lúa vào bao, phía vai phải của chú hơi bị lệch xuống, chân trái có vẻ hơi nhón lên. Chú bước đi rất khó khăn, tay phải chú run lật bật. Thầy Tuyến- Bí thư Đoàn trường Lê Trung Kiên cùng đi với tôi vội chạy lại khiêng cho chú. Chúng tôi cùng xúm lại hốt lúa vào bao. Đã lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức cái mùi thơm nồng nồng của hơi lúa và mới biết được cái cảm giác xót xót tê tê của hạt lúa đâm vào các ngón tay, bàn tay. Chừng khoảng 30 phút thì chúng tôi hốt xong đống lúa. Tranh thủ lúc chú Ba còn chuẩn bị ấm trà, thầy Tuyến đã kịp ghi lại mấy tấm hình về quang cảnh nhà chú. Tôi cũng đảo mắt một lượt khắp nhà và ngắm nhìn cái dáng đi tập tễnh của chú, tay phải chú giữ ấm trà cứ lắc qua lắc lại khiến cho nước từ phích đổ vào ấm bị văng ra ngoài khá nhiều. Nhà của chú cũng giống nhiều nhà khác ở huyện Đông Hòa, chỉ có khác một điều là nhiều giấy khen, bằng khen, huân chương treo kín hết ở khoảng trên cửa sổ của bức vách phía Tây Bắc. Biết tôi nhìn ngôi nhà và giấy khen với vẻ tò mò, chú Ba nói:
“ Ngày giải phóng chú ở trên núi xuống chỉ có hai bàn tay trắng, nhà cửa ruộng vườn không có gì cả, giấy khen, bằng khen chú còn nhiều lắm nhưng nhà hết chỗ treo rồi. Năm nào cũng được khen, hôm rồi họp cựu chiến binh chú có nói với mấy anh ở xã: nay chú lớn tuổi rồi làm việc không được nhiều nữa, để khen lớp trẻ cho nó phấn khởi”. Vừa nói chú vừa ngồi xuống ghế. Sẵn đà tôi nói luôn ý định của mình về việc tìm gặp chú. Chú cười và nói “ Thời của chú khác với thời bây giờ”. Giọng chú hơi bị rè do thanh quản hơi yếu vì hút thuốc nhiều hay vừa mới cảm ho gì đó. Cách nói của chú gãy gọn không sử dụng từ đệm, từ thừa như những người ở tuổi của chú nên nghe rất rõ.
Chú kể: Trước năm 1972, nhà chú là cơ sở của cách mạng. Anh em ở trên núi xuống ban đêm nhiều khi phải ở lại, phải nằm hầm bí mật, một mình cô lo chuyện cơm nước. Có khi cả đại đội đặc công về trinh sát nằm hầm bí mật của nhà chú và các nhà lân cận mấy ngày liền. Năm 1972, cấp trên thấy chú hoạt động ở đây không an toàn nên gọi chú lên. Chú đi hôm trước thì hôm sau cô bị bắt. Chúng đánh giữ lắm, đến nay mỗi khi thời tiết thay đổi là cô đau chịu không nổi. Bây giờ tôi mới hiểu là tại sao cô lại được tặng huân chương kháng chiến hạng nhất. Chú kể tiếp:
- Chúng đánh cho thâm tím hết mình mẩy nhưng mặt mũi tay chân lại không hề hấn gì? Cô là dân làm ruộng nhưng da trắng lắm. Hồi đó cô dẫn mấy chú bộ đội đi trinh sát ban đêm. Lúc về các chú còn nói: Chị Ba đi trước cứ xắn quần lên như vậy là tụi em đi sau không cần đèn cũng thấy đường. Có chú còn bạo miệng nói: Nhìn cặp đùi của chị Ba em nhớ vợ quá.
- Cô lại hay ăn trầu nên môi khi nào cũng đỏ chót.
- Bọn chúng đánh chán không tìm được manh mối gì đành phải thả cô ra. Có điều tên phó đồn cảnh sát lại chạy theo tán tỉnh cô. Ban ngày nó đến chọc ghẹo không làm được gì nó lại chuyển sang ban đêm. Cứ tối đến là cô phải chốt hết cửa rồi nhờ cô Năm đến ngủ nhưng cũng không yên tâm.
          Lúc này thầy Tuyến cười và nói xen vào:
- Dạ thưa Bác lúc đó bác có sợ mất cô không ạ!
Chú Ba cười: - Thầy giỡn hoài. Sau lần cô bị bắt thì anh em mình ở trên xuống không dám ở lại nhà chú nữa. Mấy anh ở xã cũng tính nếu cô ở lại, khi bọn chúng biết chú lên núi thế nào chúng cũng bắt cô và tra tấn giã man hơn trước. Thế là chú được các anh cho về đưa vợ và hai đứa con lên đó, để lại nhà cửa ruộng vườn bị bọn chúng đốt phá sạch. Nhà này là chú làm lại năm 1978.
- Thưa chú có phải chú bị thương vào dịp tổng tiến công mùa xuân năm 1975 không ạ? Tôi hỏi.
- Chú bị thương vào 29 tết năm 1973 trong chiến dịch giải phóng nhà thờ Đông Mỹ trước khi kí hiệp định Pari. Chú và chú Năm anh ruột của chú Nguyễn Thành Long- Chủ tịch huyện Đông Hòa bây giờ cùng dẫn quân đi một mũi. Chú là xã đội trưởng, chú Năm là chính trị viên. Đến Hòa Tân bị địch phát hiện, đạn bắn như mưa vào đội hình của chú, nhìn thấy đạn lóe sáng sát với tai mình nhưng lệnh của trên xuống bọn chú vẫn cứ tiến công. Cách Quốc lộ chừng 2 km thì ban chỉ huy chiến dịch thông báo giữ nguyên đội hình nhưng thay đổi chiến thuật không giải phóng nhà thờ nữa mà giải phóng Hòa Thành, làm bàn đạp để sau này tấn công vào thị xã Tuy Hòa. Trận đó chúng ta thực hiện được ý định, nhưng cũng tốn thất lớn, nhiều cán bộ, chiến sĩ hi sinh lắm. Chú Năm hi sinh, còn chú bị đạn bắn gãy xương đòn cánh tay phải. Nói đến đây giọng chú bỗng chùng xuống khóe mắt hơi ngấn nước.
- Ngày đó bệnh xá cố gắng làm sao để xương của chú phục hồi, vết thương mau lành còn việc nối lại các dây thần kinh điều hành hoạt động thì không làm được. Sức khỏe của chú trước đây tốt lắm. Khi chưa bị thương chú có thể gánh cả trăm kí, nhiều đêm thức trắng để xuống núi vẫn không thấy mệt. Khi xuất viện chú thấy tay mình cử động rất khó khăn, nhưng cứ nghĩ là sau này nó sẽ trở lại bình thường. Tháng 10 năm 1974, chú được Tỉnh đội cho ra Bắc để điều trị vết thương, nhưng chú được tin là sắp có đánh lớn, chú xin anh Chín bí thư cho chú ở lại.
- Giải phóng xong, chú được phân công làm xã đội trưởng, làm bí thư hợp tác xã 2, rồi làm trưởng ban kiểm soát. Năm 1986, chuẩn bị bước vào thời kì đổi mới, bạn bè thời kì lên núi với chú, số anh em có ít kiến thức được Nhà nước cho đi học tiếp để về phục vụ đất nước. Chú ráng làm thêm 2 năm nữa đến cuối năm 1988 thấy cách làm ăn mới mình không có trình độ không thể kiểm tra chấn chỉnh được anh em và nói người ta cũng không nghe, chú quyết dịnh xin nghỉ công tác. Mấy anh ở xã rất thương chú, động viên chú ở lại hứa sẽ cử người giúp đỡ chú, nhưng thấy chú nhất quyết xin nghỉ họ đành phải chấp nhận.
          Thầy Tuyến là dân Hòa Vinh, lúc chú nghỉ công tác thầy hãy còn nhỏ nhưng lớn lên cũng được nghe kể chuyện về một thời HTX ăn chia theo công điểm. Thầy Tuyến vừa cười vừa hỏi: Dạ thưa bác! Hồi làm ở HTX bác có công điểm nhiều, lúa gạo nhiều, đến khi bác nghỉ làm cán bộ làm sao đủ ăn.
          Chú nói: Năm đó bắt đầu giao khoán ruộng rồi, nhà chú có 7 người con với vợ chồng chú nữa là 9 miệng ăn mà chỉ trông chờ vào mấy sào ruộng khoán làm sao đủ ăn hả cháu. Hậu quả của những năm bị giam, bị đánh đập đã làm cho việc đi lại của cô khó khăn và ốm đau liên miên, tất cả tiền thuốc men đều trông chờ vào mấy hạt lúa. Có năm chú phải vay anh em đến bốn, năm tạ thóc để trang trải. Chính trong hoàn cảnh như vậy, chú nhớ lại hồi ở trên núi mỗi lần gặp khó khăn là anh em lại nhắc đến lời dạy của Bác: “ Không có việc gì khó”. Chú sực nhớ đến khu căn cứ hồi xưa có nhiều chỗ rừng bằng phẳng có thể làm rẫy được, dưới chân núi còn nhiều khoảng đất bỏ hoang có thể cải tạo làm ruộng được.
          Thế là vợ chồng con cái lại tiếp tục dắt dìu nhau lên núi. Dựng chòi ở, làm cả ngày cả đêm. Đêm đốt ngày dọn. Lúc đó núi rừng hoang vu lắm. Đêm nào cũng nghe tiếng kêu của mang, tiếng cây khô gãy kêu răng rắc do Hươu, Nai bỏ chạy vì thợ săn bắn trượt. Thỉnh thoảng còn nghe tiếng Cọp gầm ở rừng sâu vọng về. Sợ nhất là trúng phải bom mìn. Cũng may là những thứ làm chết người này, khi gặp lửa đốt rẫy nó đều nổ hết. Làm việc vất vả nhưng cũng có một cái sướng là thức ăn không thiếu. Cá đồng nhiều lắm, với một vũng nước bằng nửa cái sân phơi lúa nhà chú, dùng gàu tát không đến một tiếng đồng hồ là cạn, có khi bắt được cả gần chục kí cá. Ăn không hết là chị Hai lại đạp xe mang về cho bà con cô bác, đôi khi còn đem ra chợ bán.
          Ông trời cũng thương! Mùa đầu tiên chú khai phá cũng được khoảng 8 sào, thu hoạch được gần 30 tạ thóc, vừa có ăn vừa đủ để trang trải nợ nần. Theo đà đó, cha con chú tiếp tục khai phá mở rộng diện tích ra. Năm cao nhất, chú làm đến 3 ha ruộng, 2 ha rừng thu hoạch có khi đến vài chục tấn lúa, còn rừng thì chặt cây Bạc hà về cất nhà thoải mái. Chú có điều kiện để dựng vợ gả chồng cho tụi nhỏ. Vậy nhưng cũng có mùa mất đau lắm: năm 1993 lụt ngập trắng hết, mấy tạ thóc giống đem gieo sạ lúa đang thì con gái bị ngập úng hết. Cô tiếc quá nhiều đêm không ngủ được bạc trắng cả mái đầu. Hai năm liên tiếp 2001, 2002 hạn hán xảy ra, ở dưới này còn có hệ thống thủy nông còn trên đó không có một hột nước để gieo sạ, thằng thứ 7 của chú đang học dở lớp 9 phải bỏ học để đi làm rẫy.
          - Chú làm ruộng rẫy nhiều như vậy chắc là chú không tham gia công tác ở địa phương nữa?
          - Đâu có! Không có năm nào chú không tham gia công tác. Chú nhớ lời Bác dạy lắm chứ: là Đảng viên phải suốt đời phấn đấu hi sinh. Nghỉ công việc ở xã, ở HTX là mấy anh lại giao cho việc của Thôn, rồi Hội cựu chiến binh. Được cái, các công việc chú làm đều hoàn thành, bà con cũng mến. Giấy khen, bằng khen của chú nhiều là vậy đó. Hai năm nay chú lại làm Bí thư chi bộ thôn 3- Hòa Vinh. Thôn có số dân gần 6000 người nhưng năm nào cũng đạt danh hiệu thôn văn hóa. Hôm rồi anh Sáu Tấn Bí thư huyện đã nói: “ Bây giờ làm cho dân tin, nói cho dân nghe khó lắm.” Chú làm ở cơ sở gần gũi quần chúng nghe được nhiều ý kiến, dư luận của nhân dân. Cán bộ, Đảng viên không trong sạch, không gương mẫu dân họ ghét lắm, nói họ không nghe đâu.
Không riêng gì chú mà bọn trẻ nhà này cũng được mọi người mến lắm. Mới dạo tháng 6 năm trước thằng  thứ 7 nhà này đang đi qua quãng đồng vắng thì thấy một tụi mấy thằng thanh niên đang định cưỡng hiếp một con bé. Một mình nó xông vào giải cứu cho con bé. Nó được nhận bằng khen của Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em  đang treo kia kìa. Thằng Út trước là học sinh trường Lê Trung Kiên các thầy cô cũng khen học giỏi và ngoan lắm. Hồi còn học Đại học Bách khoa Đà Nẵng năm thứ hai nó xung phong đi chiến dịch mùa hè xanh ở Phú Yên, lên trên huyện miền núi Sông Hinh giúp các em người dân tộc. Nó được Tỉnh đoàn Phú Yên tặng bằng khen về công tác hoạt động xã hội.
Mãi nghe Chú Ba kể chuyện quên cả nhìn đồng hồ. Chừng hơn 6 giờ rưỡi chiều, thầy Tuyến nháy tôi đứng dậy. Chú Ba mời chúng tôi ở lại ăn cơm lúa mới với cá đồng. Tôi xin lỗi chú và hẹn dịp khác. Do tối nay thầy Tuyến phải ra thành phố nghỉ lại để sáng mai thi đấu bóng chuyền sớm.
Rời khỏi nhà Chú Ba trong tôi cứ xáo trộn lên những suy nghĩ: Những năm chống Mỹ chúng ta có một câu nói cửa miệng mà các nhà văn, nhà báo thường đề cập đến là: “ Ra ngõ gặp anh hùng”. Ngày nay tại sao ta không dùng cụm từ đó. Có phải ngày nay chúng ta hiếm gặp anh hùng không? Những người như Chú Ba sẽ đạt danh hiệu thi đua gì trong thời đại ngày nay.
Những chiến sĩ biên phòng nơi biên giới hải đảo, những giáo viên cắm bản ở nơi rừng núi cao hẻo lánh, những người vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Họ sẽ đạt danh hiệu thi đua gì? Nếu đặt ra các tiêu chí là: Có sáng kiếm kinh nghiệm, có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh hoặc phải đạt chất lượng học sinh cao như ở thành phố và đông bằng. Đối với những nơi và những người như trên thật khó khả thi. Dứt điều suy nghĩ trên cũng là lúc xe của chúng tôi từ trong hẻm tối vào nhà Chú Ba đã ra đến đường lớn vừa có ánh điện vừa có ánh trăng non đầu tháng. Thầy Tuyến thốt lên: Trời đẹp quá! Ngày mai chắc nắng to thầy ạ.

                               Đông Hòa, tháng 4 năm 2010
                                                Ngô Minh Hòa

Bút ký

CHUYỆN KỂ VỀ  MỘT HỌC SINH DÂN TỘC TÀY

Chúng tôi đến Sông Hinh vào những ngày đầu của tháng hai âm lịch. Khi đợt gió mùa Đông Bắc đang hoành hành ở các tỉnh Bắc bộ, Bắc Trung bộ và có xu hướng chuyển dịch xuống phía nam. Thế nhưng sau khi đã vượt qua ngọn đèo Hải Vân rồi tiếp tục lan tỏa trên dãy Trường Sơn vào đến Sông Hinh, một huyện miền Tây của tỉnh Phú Yên sức gió chỉ còn phảng phất và hơi se lạnh. Sông Hinh nổi tiếng về hoa Lan rừng. Đây là mùa của Lan Giả hạc, rất hiếm gặp nơi nào lan rừng có nhiều màu sắc đẹp như ở đây . Đấy là cảm nhận của tôi trong những lần trước, nhân dịp đi thăm nhà máy Thủy điện mấy người bạn rủ nhau kết hợp một chuyến du hý thăm thú núi rừng, kiếm một vài giò Phong lan tặng người thân.
Còn mục đích của chuyến đi này của chúng tôi lên Sông Hinh là đến Buôn Chách thuộc xã Ea Bia thăm gia đình em Hoàng Thị Thùy Linh người dân tộc Tày, một học sinh lớp 11 trường phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh đã đạt giải nhì trong cuộc thi “ Cán bộ Đoàn giỏi”. Người ta nói xã Ea Bia là một trong những xã nghèo của huyện Sông Hinh. Buôn Chách có khoảng hơn một trăm hộ dân, có gần một nữa là người Dao từ các tỉnh miền núi phía Bắc vào. Số còn lại là người Ê đê vừa là dân bản địa, vừa là dân thuộc tỉnh Đắk Lắk chuyển xuống vài ba chục năm nay. Nhìn nhà cửa, vườn tược các gia đình vẫn còn hoang sơ lắm. Duy nhất chỉ có nhà em Linh là người dân tộc Tày. Nay đang là mùa làm rẫy nên muốn gặp người lớn ở nhà là rất khó. Không biết có phải bọn trẻ con thấy cách ăn mặc của chúng tôi, thấy chúng tôi mang theo máy chụp hình nên chạy ra đứng xem khá đông. Có lẽ nhân vật chúng tôi gặp kể cả gia đình có rất nhiều tình tiết cảm động nên khi hỏi đến bọn trẻ con đều biết và cháu nào cũng dành nhau dẫn chúng tôi đến nhà.
Ngôi nhà mà chúng tôi được các cháu dẫn đến là một ngôi nhà xây giống kiểu nhà người Kinh nhưng kiểu xây đơn giản, đồ đạc trong nhà thì không có gì ngoài hai chiếc giường và cái bàn gỗ đã cũ. Tiếp chúng tôi là một cụ già râu tóc đều bạc phơ, bước đi chậm chạp và lưng hơi bị còng.chúng tôi đã được các anh ở Huyện giới thiệu tên cụ là Hoàng Văn Thích, đã tám mươi lăm tuổi và là một lão thành cách mạng trên năm mươi tuổi Đảng.
Cụ nói: ông trời không thương tui nhưng Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Cụ rất tự hào về cuộc đời làm cách mạng của mình, nhất là tám lần được đứng trong đội bảo vệ Bác Hồ,được thấy Bác rất gần gũi . Theo lời cụ kể chúng tôi được biết thêm Cụ là người dân tộc Tày có gần bốn mươi năm công tác, bắt đầu là bộ đội sau đó là chiến sỹ biên phòng, rồi đến Công an. Trước khi cụ về hưu là Trưởng Công an huyện Văn Lãng tỉnh Lạng Sơn. Người vợ đầu sống với Cụ chỉ hơn năm năm, sinh cho cụ được một người con gái. Người vợ thứ hai sinh thêm cho cụ được hai người con trai, bố của em Linh là út. Bà cũng ra đi khi bố của Linh được chín tuổi và cụ mới ngoài năm mươi.
Cụ về hưu năm 1986, tiếng là Trưởng Công an một huyện nhưng gia đình cụ vẫn ở nhà Sàn như tất cả các nhà trong Bản. Lúc bấy giờ là giai đoạn khó khăn nhất của nền kinh tế. Mấy năm, sau khi cụ về hưu do đời sống khổ quá, một số gia đình trong Bản rủ nhau đi vào Miền nam. Cụ đã đem ý định Nam tiến của mình kể cho một người bạn, sau này là Ông ngoại của Linh. Người bạn đã khuyên cụ nên đi vào các huyện miền núi của tỉnh Phú Yên. Trước đây cụ cũng đã có dịp vào Nam công tác nhưng thường là vào TP. Hồ Chí Minh hoặc các thành phố khác. Cụ chưa nghe nói đến Phú Yên (trước đó gọi là Phú Khánh). Cụ thấy cái tên Phú Yên cũng hay hay, cụ nghĩ: Phú có lẽ là trù phú dễ làm ăn, Yên là yên lành không có rừng thiêng nước độc. Thế là năm tám chín cụ đã đem cả gia đình vào Sông Hinh.
Chuyện tình của Bố mẹ Linh cũng tạo cho chúng tôi khá nhiều ấn tượng . Bố Linh tên là Hải, mẹ Linh tên là Cảnh, người dân tộc Sán dìu ở Tuyên Quang. Trước đây bố Linh do bà nội mất sớm nên hay được ông nội cho đi theo mỗi lần ông đi công tác xa nhà. Ông Hầu Văn Tường là ông ngoại của Linh, thấy ông Thích cảnh gà trống nuôi con, lại hay dẫn bố Hải của Linh đi ông rất cảm phục. Có lần ông Tường nói chuyện với ông Thích, vừa nói vui với Hải:
Mày ráng học sau này làm nên cơ nghiệp tao gả con gái cho.
Cứ nghĩ hai ông bạn già chỉ nói đùa cho vui vậy thôi. Ai ngờ mấy năm sau cô bé Hầu Thị Cảnh, đã 16 tuổi có đuôi mắt dài, đôi lông màu đen mượt luôn ánh lên những nét tươi cười, cũng được bố dẫn đi theo. Cả hai đã dẫn nhau ra bờ suối cùng chơi khoát nước vào nhau. Được một lúc thấy Hải đứng sững lại, đỏ mặt lúng túng. Cùng lúc đó như có một dòng điện chạy qua, Cảnh vội cúi xuống nhìn ngực mình, thấy áo đã bị Hải làm ướt hết, hiện rõ khuôn ngực tròn đang nhô lên sau làn áo mỏng, cô vội ù té chạy. Sau lần đó thì mỗi khi đêm về  Cảnh cứ hình dung cặp mắt và điệu bộ của Hải khi nhìn mình. Còn Hải thì mỗi lần gặp Cảnh là cứ đỏ mặt và lúng túng. Biết được ý định của hai đứa ông Tường đã nói với Hải trước lúc ông Thích đưa cả nhà vào Nam:
Tao cho con Cảnh theo mày vào trong đó nhưng khi nào mày dựng được nhà, làm được nhiều rẫy tao mới cho mày cưới.
Đúng như lời ông Tường nói, sau Tết năm chín ba ông Tường đã đưa Cảnh vào Sông Hinh, hai nhà đã tổ chức lễ cưới cho Hải và Cảnh.
Mười tám mùa rẫy đã trôi qua, cô gái Cảnh có đôi mắt đẹp, với cơ thể được bó chặc trong cái áo thổ cẩm nổi lên những đường cong uốn lượn từ vai xuống hông, từ ngực xuống bụng tràn đầy sức sống ngày nào. Nay chị đang nằm trên giường bệnh, đang bị một căn bệnh chỉ dành cho Phụ nữ, bệnh u nang buồng trứng. Chị đã được anh Hải cho vào Thành phố Hồ Chí Minh mổ một lần nhưng vì là u xơ nên không thể lành được.
Nói ông trời không thương tui là vậy đó, ông Thích nói:
Hai người vợ rồi, người con gái là những người hiểu tui nhất, thường nấu cho tui các bữa ăn ngon. Ông trời lại bắt đi hết, đứa con dâu thật siêng năng, thật tốt bụng, lại đẹp người nữa vậy mà lại bị căn bệnh hiểm nghèo. Đến đứa cháu nội trời cũng không buông tha, thằng nhỏ nay đã mười ba tuổi rồi mà vẫn như đứa bé một, hai tuổi. Thỉnh thoảng nó lại lên cơn co giật làm cả nhà phải nháo nhác lên. Đến đây cụ Thích thở dài và nói:
cũng không phải ông trời nào hết. Tại số tui nó vậy, may ra dăm bảy năm nữa nước mình khá lên, khoa học phát triển, các căn bệnh hiểm nghèo giảm đi, biết đâu khi đó chữa bệnh được cho cháu tôi. Cụ nói tiếp:
Nếu không có mấy anh ở Xã, ở Huyện và các thầy cô giáo chắc con Linh cũng không được đi học.
Thật tội con bé. Em bệnh rồi đến mẹ bệnh. Nếu đi học ở trường thì thôi, về đến nhà, khi thì lo trông em, khi thì lo cơm nước, giặt giũ quần áo, heo gà. Mùa hè hoặc nhà trường cho nghỉ học vài ba ngày có khi còn lên rẫy giúp bố mẹ. Được cái cháu rất chăm học, hễ buông tay làm là ôm ngay quyển sách, học quên cả ăn cơm.
Cháu học cũng khá, mười một năm đi học thì có đến mười năm là học sinh giỏi. Các thầy cô giáo cũng thương, năm nào cũng có phần thưởng cho cháu. Các cháu học cùng trường với Linh nhà cũng rất nghèo nhưng rất yêu thương đùm bọc lẫn nhau. Nghe các thầy cô giáo nói về hoàn cảnh của Linh như vậy. Có lớp thì đến nhà làm việc giúp đỡ cho cháu, có lớp tự động quyên góp cho cháu tiền hoặc sách vở. Hoàn cảnh cháu khổ thì thật khổ nhưng điều kiện để học là không đến nỗi phải thiếu.Cháu cũng biết vậy nên trước đây ở trường huyện, nay về trường của tỉnh chưa bao giờ nghe cháu kêu với cha mẹ không đủ tiền mua sách vở hoặc quần áo đi học.
Chúng tôi đã gặp em Linh ở trường phổ thông Dân Tộc Nội Trú tỉnh tại phòng của thầy hiệu trưởng.Lúc này nắng sớm đã rải đều trên sân trường đang hắt vào phòng những tia vàng nhạt. Làm cho khuôn mặt của Linh ửng hồng tăng thêm những nét đẹp mà em thừa hưởng từ mẹ. Thầy Dương hiệu trưởng đã rất xúc động khi nói về hoàn cảnh của em  và nhớ rất rõ về thành tích về các phần thưởng và học bổng nhà trường đã dành cho Linh. Thầy nói: em Linh hoàn cảnh thật thương tâm, mẹ thì bệnh nặng, em trai có thể là do ảnh hưởng chất độc da cam dẫn đến thiểu năng trí tuệ.Thế nhưng em vừa học giỏi vừa công tác đoàn rất tốt.
Năm lớp 10 em đã đạt giải nữ sinh tài năng được nhận học bổng Kotech, lớp 11 em đạt giải nhất môn Văn trong kỳ thi ngày hội văn hóa các dân tộc.
Việc đạt giải nhì về công tác đoàn vừa rồi chứng tỏ sự hiểu biết và năng lực của em có rất nhiều triển vọng. Em phải dự thi trong tổ chức đoàn khối các cơ quan, những người dự thi đều là cán bộ, công nhân viên đã học hết phổ thông, đã tốt nghiệp Đại học hoặc các  trường chuyên nghiệp về trình độ hơn hẳn em.
Sau lời giới thiệu của thầy Dương, chúng tôi đã hỏi em Linh về ước mơ và dự định sau khi tốt nghiệp PTTH, Linh đã không ngần ngại trả lời:
Ước mơ của em thì nhiều lắm. Có hai điều mà em sẽ cố gắng hết sức để thực hiện, đó là ước mơ trở thành Bác sĩ để chữa bệnh cho mẹ em, em trai của em và bà con buôn làng. Ước mơ thứ hai của em là làm sao cho dân vùng quê em bớt khổ, đời sống kinh tế phát triển theo kịp đồng bằng.
Tôi đang có ý định nói với em về cuộc gặp mặt học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số có thành tích cao trong kỳ thi quốc gia năm 2010 do Ủy Ban Dân Tộc và Bộ GD-ĐT tổ chức. Nói với em về học bổng Vừ A Dính,về chị Nguyễn Thị Thu Hường người dân tộc Tày là sinh viên trường ĐH Sư phạm ,v.v, nhưng trống đã báo vào giờ học tiết ba, em tạm biệt chúng tôi với một nụ cười thân thiện.
                                                       Tuy Hòa tháng 3 năm 2011
                                                                  Ngô Minh Hòa