CHÚ BA
Bút ký
“Ai đi về Bắc, ta đi với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng”.
Câu thơ của cố thi sĩ- chiến sĩ Huỳnh Văn Nghệ người con của miền Đông Nam Bộ. Mỗi khi câu thơ ấy cất lên là lòng tôi- một người con xa quê, mỗi buổi chiều tà nhìn về phương Bắc lại nhớ đến nao lòng cái xóm nhỏ thân yêu ven con sông Lam hiền hòa, êm dịu. Câu thơ trên, có lẽ cũng là tâm trạng chung của người Việt ở phía Nam khi sắp đến ngày giỗ tổ Hùng Vương và một nghìn năm Thăng Long- Hà Nội. Đó chính là ước mơ được một lần đến thăm đền Hùng, thăm Lăng Bác.
Thật diệu kì, lịch sử nhân loại hầu như không có một dân tộc nào, một đất nước nào nhỏ bé mà kiên cường như dân tộc Việt. Không một vị lãnh tụ nào được nhân dân trong nước và cả thế giới ngưỡng mộ và khâm phục như Bác Hồ. Tôi nghĩ sự phát triển, sự lớn mạnh cả về tốc độ và tầm vóc của nền kinh tế và văn hóa xã hội ở nước ta trong những năm gần đây phải chăng là sự thức tỉnh, sự tiếp nối truyền thống và phải chăng đó là kết quả của cuộc vận động và học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh- một con người, một cuộc đời như huyền thoại.
Thật vậy, đất nước Việt Nam sau bao nhiêu năm chiến tranh tàn phá, cái nghèo đeo đẳng là tất yếu. Bên cạnh đó là sự cấm vận của các thế lực thù địch, sự chậm đổi mới tư duy kinh tế dẫn đến nhiều năm sau giải phóng không riêng gì các nước có nền kinh tế phát triển, các nước thuộc thế giới thứ 3 không dám đầu tư vào Việt Nam mà cả các nước láng giềng, các nước anh em cũng do dự. Đến nay, sau 20 năm đổi mới chúng ta đã là đối tác làm ăn tin cậy của hầu khắp các nước trên thế giới. Cùng với sự tô điểm của cơ sở hạ tầng và sự mở rộng giao lưu văn hóa, sự ổn định của đời sống chính trị và an ninh quốc phòng, Việt Nam đã trở thành địa chỉ hấp dẫn với du khách và được sự tin tưởng của nguyên thủ các quốc gia. Một minh chứng rất thuyết phục là hầu hết người Việt ở trong nước cũng như ngoài nước, những người trước nay một lòng một dạ theo Đảng và cả những người từng làm cho chế độ bên kia đều công nhận Việt Nam có rất nhiều tiến bộ, đều phấn khởi về sự đổi mới của Đảng, đều hướng về Tổ quốc.
Mang theo những cảm nhận và suy nghĩ trên, Tôi đã đến Đông Hòa- một huyện mới thành lập cách đây hơn 5 năm, được coi là một trong những địa phương tham gia tích cực vào quỹ đạo phát triển của đất nước. Tôi đã đi dọc theo Quốc lộ 1 thuộc địa phận xã Hòa Vinh, nhìn các tòa nhà cao tầng mang dáng dấp một phố thị. Tôi đã rẽ từ ngã ba Phú Hiệp đi về phía Đông Nam thấy các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cảm nhận được sự sôi động của một tiềm năng kinh tế. Tôi tự hỏi mình: sự thấm đẫm của việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh, sự đơm hoa kết trái của quá trình học tập Người đã diễn ra thế nào ở Đông Hòa? Trong một dịp tham gia sinh hoạt với trường Lê Trung Kiên một trường THPT thuộc thị trấn, thầy Công chủ tịch công đoàn đã nêu cho tôi một ý tưởng: Những người sinh ra và lớn lên trong suốt chiều dài của hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, thấy được sự hi sinh gian khổ của các chiến sĩ và cũng từng trải nghiệm những đau thương do cuộc chiến tranh để lại sẽ là những người có cách nhìn nhận, đánh giá chính xác nhất về sự thành công của công tác giáo dục chính trị tư tưởng qua hai thời kì: những năm chiến tranh và hiện tại. Với ý tưởng này, tôi đã điện thoại cho anh Sáu Thính hội trưởng Hội cựu chiến binh huyện Đông Hòa, được anh giới thiệu gặp chú Ba Sinh.
Từ Phú Lâm, xe chúng tôi băng qua cánh đồng Phước Lộc của Đông Hòa dài chừng 5km, chứng kiến vẻ đẹp của cánh đồng, tôi liên tưởng đến bài hát “ Tiếng hò trên đồng lúa Tuy Hòa” sáng tác Hoàng Thơ Huy – Vũ Trung Uyên. Hiện đang là những ngày chuẩn bị thu hoạch lúa vụ ba, nhìn những bông lúa đã chín rục đan xoắn lấy nhau, thỉnh thoảng có một cơn gió mạnh thổi đến các bông lúa như muốn đè lên nhau, lớp này đến lớp khác, trải dài nhấp nhô như sóng biển. Từ Quốc lộ 1, chúng tôi rẽ xuống ngã ba đi Hòa Hiệp với địa chỉ là ông Lê Văn Sinh- Cựu chiến binh- Thôn 3- Hòa Vinh. Đi loanh quanh 3, 4 cái hẻm và phải hỏi đến 3 người thì chúng tôi mới đến được nhà của chú.
Lúc này đã hơn 4 giờ chiều. Ngoài đường ánh nắng vẫn còn khá gay gắt, thế nhưng cái khoảng sân nhà chú đã bị bóng của mái nhà, tán cây che khuất. Chú đang còn hốt lúa cho vào các bao tải. Những hạt lúa khi ở ngoài đồng, trên xe nhìn xuống chỉ thấy một màu vàng lấp loáng. Nay nhìn tận nơi mới thấy được chúng căng tròn, dài và vỏ rất mỏng khác với hạt lúa của quê tôi trước đây. Chú Ba đang cúi gập lưng xuống để hốt lúa vào thúng. Đã ngoài 70 tuổi nhưng nhìn bắp chân và tấm lưng trần màu da sẫm hồng lấm tấm mồ hôi, cảm giác cơ thể chú vẫn còn rắn chắc lắm. Khi chú ngẩng lên để trút lúa vào bao, phía vai phải của chú hơi bị lệch xuống, chân trái có vẻ hơi nhón lên. Chú bước đi rất khó khăn, tay phải chú run lật bật. Thầy Tuyến- Bí thư Đoàn trường Lê Trung Kiên cùng đi với tôi vội chạy lại khiêng cho chú. Chúng tôi cùng xúm lại hốt lúa vào bao. Đã lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức cái mùi thơm nồng nồng của hơi lúa và mới biết được cái cảm giác xót xót tê tê của hạt lúa đâm vào các ngón tay, bàn tay. Chừng khoảng 30 phút thì chúng tôi hốt xong đống lúa. Tranh thủ lúc chú Ba còn chuẩn bị ấm trà, thầy Tuyến đã kịp ghi lại mấy tấm hình về quang cảnh nhà chú. Tôi cũng đảo mắt một lượt khắp nhà và ngắm nhìn cái dáng đi tập tễnh của chú, tay phải chú giữ ấm trà cứ lắc qua lắc lại khiến cho nước từ phích đổ vào ấm bị văng ra ngoài khá nhiều. Nhà của chú cũng giống nhiều nhà khác ở huyện Đông Hòa, chỉ có khác một điều là nhiều giấy khen, bằng khen, huân chương treo kín hết ở khoảng trên cửa sổ của bức vách phía Tây Bắc. Biết tôi nhìn ngôi nhà và giấy khen với vẻ tò mò, chú Ba nói:
“ Ngày giải phóng chú ở trên núi xuống chỉ có hai bàn tay trắng, nhà cửa ruộng vườn không có gì cả, giấy khen, bằng khen chú còn nhiều lắm nhưng nhà hết chỗ treo rồi. Năm nào cũng được khen, hôm rồi họp cựu chiến binh chú có nói với mấy anh ở xã: nay chú lớn tuổi rồi làm việc không được nhiều nữa, để khen lớp trẻ cho nó phấn khởi”. Vừa nói chú vừa ngồi xuống ghế. Sẵn đà tôi nói luôn ý định của mình về việc tìm gặp chú. Chú cười và nói “ Thời của chú khác với thời bây giờ”. Giọng chú hơi bị rè do thanh quản hơi yếu vì hút thuốc nhiều hay vừa mới cảm ho gì đó. Cách nói của chú gãy gọn không sử dụng từ đệm, từ thừa như những người ở tuổi của chú nên nghe rất rõ.
Chú kể: Trước năm 1972, nhà chú là cơ sở của cách mạng. Anh em ở trên núi xuống ban đêm nhiều khi phải ở lại, phải nằm hầm bí mật, một mình cô lo chuyện cơm nước. Có khi cả đại đội đặc công về trinh sát nằm hầm bí mật của nhà chú và các nhà lân cận mấy ngày liền. Năm 1972, cấp trên thấy chú hoạt động ở đây không an toàn nên gọi chú lên. Chú đi hôm trước thì hôm sau cô bị bắt. Chúng đánh giữ lắm, đến nay mỗi khi thời tiết thay đổi là cô đau chịu không nổi. Bây giờ tôi mới hiểu là tại sao cô lại được tặng huân chương kháng chiến hạng nhất. Chú kể tiếp:
- Chúng đánh cho thâm tím hết mình mẩy nhưng mặt mũi tay chân lại không hề hấn gì? Cô là dân làm ruộng nhưng da trắng lắm. Hồi đó cô dẫn mấy chú bộ đội đi trinh sát ban đêm. Lúc về các chú còn nói: Chị Ba đi trước cứ xắn quần lên như vậy là tụi em đi sau không cần đèn cũng thấy đường. Có chú còn bạo miệng nói: Nhìn cặp đùi của chị Ba em nhớ vợ quá.
- Cô lại hay ăn trầu nên môi khi nào cũng đỏ chót.
- Bọn chúng đánh chán không tìm được manh mối gì đành phải thả cô ra. Có điều tên phó đồn cảnh sát lại chạy theo tán tỉnh cô. Ban ngày nó đến chọc ghẹo không làm được gì nó lại chuyển sang ban đêm. Cứ tối đến là cô phải chốt hết cửa rồi nhờ cô Năm đến ngủ nhưng cũng không yên tâm.
Lúc này thầy Tuyến cười và nói xen vào:
- Dạ thưa Bác lúc đó bác có sợ mất cô không ạ!
Chú Ba cười: - Thầy giỡn hoài. Sau lần cô bị bắt thì anh em mình ở trên xuống không dám ở lại nhà chú nữa. Mấy anh ở xã cũng tính nếu cô ở lại, khi bọn chúng biết chú lên núi thế nào chúng cũng bắt cô và tra tấn giã man hơn trước. Thế là chú được các anh cho về đưa vợ và hai đứa con lên đó, để lại nhà cửa ruộng vườn bị bọn chúng đốt phá sạch. Nhà này là chú làm lại năm 1978.
- Thưa chú có phải chú bị thương vào dịp tổng tiến công mùa xuân năm 1975 không ạ? Tôi hỏi.
- Chú bị thương vào 29 tết năm 1973 trong chiến dịch giải phóng nhà thờ Đông Mỹ trước khi kí hiệp định Pari. Chú và chú Năm anh ruột của chú Nguyễn Thành Long- Chủ tịch huyện Đông Hòa bây giờ cùng dẫn quân đi một mũi. Chú là xã đội trưởng, chú Năm là chính trị viên. Đến Hòa Tân bị địch phát hiện, đạn bắn như mưa vào đội hình của chú, nhìn thấy đạn lóe sáng sát với tai mình nhưng lệnh của trên xuống bọn chú vẫn cứ tiến công. Cách Quốc lộ chừng 2 km thì ban chỉ huy chiến dịch thông báo giữ nguyên đội hình nhưng thay đổi chiến thuật không giải phóng nhà thờ nữa mà giải phóng Hòa Thành, làm bàn đạp để sau này tấn công vào thị xã Tuy Hòa. Trận đó chúng ta thực hiện được ý định, nhưng cũng tốn thất lớn, nhiều cán bộ, chiến sĩ hi sinh lắm. Chú Năm hi sinh, còn chú bị đạn bắn gãy xương đòn cánh tay phải. Nói đến đây giọng chú bỗng chùng xuống khóe mắt hơi ngấn nước.
- Ngày đó bệnh xá cố gắng làm sao để xương của chú phục hồi, vết thương mau lành còn việc nối lại các dây thần kinh điều hành hoạt động thì không làm được. Sức khỏe của chú trước đây tốt lắm. Khi chưa bị thương chú có thể gánh cả trăm kí, nhiều đêm thức trắng để xuống núi vẫn không thấy mệt. Khi xuất viện chú thấy tay mình cử động rất khó khăn, nhưng cứ nghĩ là sau này nó sẽ trở lại bình thường. Tháng 10 năm 1974, chú được Tỉnh đội cho ra Bắc để điều trị vết thương, nhưng chú được tin là sắp có đánh lớn, chú xin anh Chín bí thư cho chú ở lại.
- Giải phóng xong, chú được phân công làm xã đội trưởng, làm bí thư hợp tác xã 2, rồi làm trưởng ban kiểm soát. Năm 1986, chuẩn bị bước vào thời kì đổi mới, bạn bè thời kì lên núi với chú, số anh em có ít kiến thức được Nhà nước cho đi học tiếp để về phục vụ đất nước. Chú ráng làm thêm 2 năm nữa đến cuối năm 1988 thấy cách làm ăn mới mình không có trình độ không thể kiểm tra chấn chỉnh được anh em và nói người ta cũng không nghe, chú quyết dịnh xin nghỉ công tác. Mấy anh ở xã rất thương chú, động viên chú ở lại hứa sẽ cử người giúp đỡ chú, nhưng thấy chú nhất quyết xin nghỉ họ đành phải chấp nhận.
Thầy Tuyến là dân Hòa Vinh, lúc chú nghỉ công tác thầy hãy còn nhỏ nhưng lớn lên cũng được nghe kể chuyện về một thời HTX ăn chia theo công điểm. Thầy Tuyến vừa cười vừa hỏi: Dạ thưa bác! Hồi làm ở HTX bác có công điểm nhiều, lúa gạo nhiều, đến khi bác nghỉ làm cán bộ làm sao đủ ăn.
Chú nói: Năm đó bắt đầu giao khoán ruộng rồi, nhà chú có 7 người con với vợ chồng chú nữa là 9 miệng ăn mà chỉ trông chờ vào mấy sào ruộng khoán làm sao đủ ăn hả cháu. Hậu quả của những năm bị giam, bị đánh đập đã làm cho việc đi lại của cô khó khăn và ốm đau liên miên, tất cả tiền thuốc men đều trông chờ vào mấy hạt lúa. Có năm chú phải vay anh em đến bốn, năm tạ thóc để trang trải. Chính trong hoàn cảnh như vậy, chú nhớ lại hồi ở trên núi mỗi lần gặp khó khăn là anh em lại nhắc đến lời dạy của Bác: “ Không có việc gì khó”. Chú sực nhớ đến khu căn cứ hồi xưa có nhiều chỗ rừng bằng phẳng có thể làm rẫy được, dưới chân núi còn nhiều khoảng đất bỏ hoang có thể cải tạo làm ruộng được.
Thế là vợ chồng con cái lại tiếp tục dắt dìu nhau lên núi. Dựng chòi ở, làm cả ngày cả đêm. Đêm đốt ngày dọn. Lúc đó núi rừng hoang vu lắm. Đêm nào cũng nghe tiếng kêu của mang, tiếng cây khô gãy kêu răng rắc do Hươu, Nai bỏ chạy vì thợ săn bắn trượt. Thỉnh thoảng còn nghe tiếng Cọp gầm ở rừng sâu vọng về. Sợ nhất là trúng phải bom mìn. Cũng may là những thứ làm chết người này, khi gặp lửa đốt rẫy nó đều nổ hết. Làm việc vất vả nhưng cũng có một cái sướng là thức ăn không thiếu. Cá đồng nhiều lắm, với một vũng nước bằng nửa cái sân phơi lúa nhà chú, dùng gàu tát không đến một tiếng đồng hồ là cạn, có khi bắt được cả gần chục kí cá. Ăn không hết là chị Hai lại đạp xe mang về cho bà con cô bác, đôi khi còn đem ra chợ bán.
Ông trời cũng thương! Mùa đầu tiên chú khai phá cũng được khoảng 8 sào, thu hoạch được gần 30 tạ thóc, vừa có ăn vừa đủ để trang trải nợ nần. Theo đà đó, cha con chú tiếp tục khai phá mở rộng diện tích ra. Năm cao nhất, chú làm đến 3 ha ruộng, 2 ha rừng thu hoạch có khi đến vài chục tấn lúa, còn rừng thì chặt cây Bạc hà về cất nhà thoải mái. Chú có điều kiện để dựng vợ gả chồng cho tụi nhỏ. Vậy nhưng cũng có mùa mất đau lắm: năm 1993 lụt ngập trắng hết, mấy tạ thóc giống đem gieo sạ lúa đang thì con gái bị ngập úng hết. Cô tiếc quá nhiều đêm không ngủ được bạc trắng cả mái đầu. Hai năm liên tiếp 2001, 2002 hạn hán xảy ra, ở dưới này còn có hệ thống thủy nông còn trên đó không có một hột nước để gieo sạ, thằng thứ 7 của chú đang học dở lớp 9 phải bỏ học để đi làm rẫy.
- Chú làm ruộng rẫy nhiều như vậy chắc là chú không tham gia công tác ở địa phương nữa?
- Đâu có! Không có năm nào chú không tham gia công tác. Chú nhớ lời Bác dạy lắm chứ: là Đảng viên phải suốt đời phấn đấu hi sinh. Nghỉ công việc ở xã, ở HTX là mấy anh lại giao cho việc của Thôn, rồi Hội cựu chiến binh. Được cái, các công việc chú làm đều hoàn thành, bà con cũng mến. Giấy khen, bằng khen của chú nhiều là vậy đó. Hai năm nay chú lại làm Bí thư chi bộ thôn 3- Hòa Vinh. Thôn có số dân gần 6000 người nhưng năm nào cũng đạt danh hiệu thôn văn hóa. Hôm rồi anh Sáu Tấn Bí thư huyện đã nói: “ Bây giờ làm cho dân tin, nói cho dân nghe khó lắm.” Chú làm ở cơ sở gần gũi quần chúng nghe được nhiều ý kiến, dư luận của nhân dân. Cán bộ, Đảng viên không trong sạch, không gương mẫu dân họ ghét lắm, nói họ không nghe đâu.
Không riêng gì chú mà bọn trẻ nhà này cũng được mọi người mến lắm. Mới dạo tháng 6 năm trước thằng thứ 7 nhà này đang đi qua quãng đồng vắng thì thấy một tụi mấy thằng thanh niên đang định cưỡng hiếp một con bé. Một mình nó xông vào giải cứu cho con bé. Nó được nhận bằng khen của Ủy ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em đang treo kia kìa. Thằng Út trước là học sinh trường Lê Trung Kiên các thầy cô cũng khen học giỏi và ngoan lắm. Hồi còn học Đại học Bách khoa Đà Nẵng năm thứ hai nó xung phong đi chiến dịch mùa hè xanh ở Phú Yên, lên trên huyện miền núi Sông Hinh giúp các em người dân tộc. Nó được Tỉnh đoàn Phú Yên tặng bằng khen về công tác hoạt động xã hội.
Mãi nghe Chú Ba kể chuyện quên cả nhìn đồng hồ. Chừng hơn 6 giờ rưỡi chiều, thầy Tuyến nháy tôi đứng dậy. Chú Ba mời chúng tôi ở lại ăn cơm lúa mới với cá đồng. Tôi xin lỗi chú và hẹn dịp khác. Do tối nay thầy Tuyến phải ra thành phố nghỉ lại để sáng mai thi đấu bóng chuyền sớm.
Rời khỏi nhà Chú Ba trong tôi cứ xáo trộn lên những suy nghĩ: Những năm chống Mỹ chúng ta có một câu nói cửa miệng mà các nhà văn, nhà báo thường đề cập đến là: “ Ra ngõ gặp anh hùng”. Ngày nay tại sao ta không dùng cụm từ đó. Có phải ngày nay chúng ta hiếm gặp anh hùng không? Những người như Chú Ba sẽ đạt danh hiệu thi đua gì trong thời đại ngày nay.
Những chiến sĩ biên phòng nơi biên giới hải đảo, những giáo viên cắm bản ở nơi rừng núi cao hẻo lánh, những người vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Họ sẽ đạt danh hiệu thi đua gì? Nếu đặt ra các tiêu chí là: Có sáng kiếm kinh nghiệm, có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh hoặc phải đạt chất lượng học sinh cao như ở thành phố và đông bằng. Đối với những nơi và những người như trên thật khó khả thi. Dứt điều suy nghĩ trên cũng là lúc xe của chúng tôi từ trong hẻm tối vào nhà Chú Ba đã ra đến đường lớn vừa có ánh điện vừa có ánh trăng non đầu tháng. Thầy Tuyến thốt lên: Trời đẹp quá! Ngày mai chắc nắng to thầy ạ.
Đông Hòa, tháng 4 năm 2010
Ngô Minh Hòa