TÍNH TRỮ TÌNH TRONG BÀI THƠ VIỆT
BẮC CỦA TỐ HỮU
Nông Thị Tuyền -12A
Việt bắc là một trong những bài thơ
hay của Tố Hữu.Lời thơ là khúc hát thiết tha, ân tình và đằm thắm. Là tái hiện
của một thời Cách Mạng và kháng chiến gian khổ và hào hùng. Bên cạnh nét hoành
tráng đậm chất sử thi ấy là vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống đời thực của con
người Tây Bắc.
Tố
Hữu được biết đến là một trong số nhà thơ nổi tiếng đi đầu của văn học Việt Nam trong thời
kì kháng chiến. Là tác giả của nhiều bài thơ theo lối trử tình nhập vai với các
tác phẩm Bầm ơi, Phá đường …Nhưng có lẻ rằng Việt Bắc là một bài thơ ngọt ngào
tha thiết và điêu luyện hơn cả.Bài thơ viết nhân sự kiện Cơ quan trung ương
Đảng và Chính phủ ta rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, bài thơ được
in trong tập thơ cùng tên vào năm 1954.
Việt
Bắc được chúng ta biết đến là một địa danh lich sử Cách Mạng nổi tiếng. Nơi đây
là vùng núi xa xôi có địa hình hiểm trở và hẻo lánh của Tổ Quốc.
Bài
thơ hồi tưởng cảnh chia li của đồng bào Việt Bắc với chiến sĩ miền xuôi. Việt
Bắc! Cũng tại nơi đây họ gắng bó với nhau, cùng nhau sản xuất, chiến đấu, tình
cảm mỗi lúc một thắm thiết hơn, nó không chỉ đơn thuần là tình cảm của người ra
tiền tuyến và người hậu phương, mà đã trở thành tình cảm của những người con
trong một gia đình.
“Mình
“ và “ ta” là lời giao duyên của chàng trai và cô gái trong ngày hội nón thúng
vai thao, lời trao tình vừa tình cảm, vừa thân thiết ấm áp mà gần gũi. Cứ tưởng
rằng “Mình “ và “ ta” chỉ dành riêng cho tình yêu nhưng nó đã trở thành lối
xưng ho của những người đồng chí luôn sống chết có nhau, chung một chiến hào.
Tác giả đã sử dụng “mình ta” một cách
khéo léo và có tính chất phiếm chỉ (giữa người dân Tây Bắc và cán bộ miền
xuôi).
“Mình
về mình có nhớ ta
Mười
lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”
Câu
thơ cất lên: “Mười lăm năm ” gợi cho ta nhớ đến Truyện Kiều của Nguyễn Du đó là
thời gian lưu lạc đầy gian truôn, vất vả và tủi nhục của Thúy Kiều một “ Hồng
nhan bạc mệnh” .Nhưng ở đây “Mười lăm năm ” lại được hiểu là khoảng thời gian
dài của chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc,cùng tựa vai dệt nên những kỉ niệm khó
quên trong những ngày tháng gian khổ từ 1941 đến 1954.
Nhưng …thực tại thật trớ trêu…chỉ chốc lác nữa
thôi họ lại phải xa nhau…
Người đi, kể ở đều bồi
hồi , xao xuyến
Tiếng ai tha
thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ,
bồn chồn bước đi
Aó chàm đưa
buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì
hôm nay
Mắt là cửa sổ tâm
hồn của con người, nhìn đôi mắt họ có thể nhận ra cảm xúc và suy nghĩ của nhau.
Chính vì quá nghện ngào, lưu luyến họ không thể nói thành lời nên đã gửi lời
nhắn như của mình qua ánh mắt.
Ai cũng vậy khi xa
người thân yêu sẽ lưu giữ trong mình những kỷ niệm đẹp. Người ra đi họ không
thể nào quên tình nghĩa đồng bào nơi đây đặc biệt là bứt tranh thiên nhiên đẹp
như hoa này.
Khi đọc bài thơ
mỗi chúng ta hẳn ai cũng hình dung ra vẻ đẹp tuyệt diệu và đầy hoan sơ nhưng
lại toát lên vẻ tươi tắn và mượt mà của núi rừng Việt Bắc đẹp đẽ tươi sáng thơ
mộng và tràng đầy sưc sống.
Trong bứt tranh
thiên nhiên bốn mùa của Việt Bắc. Cảnh và người hòa nguyện vào nhau tạo nên đặc
điểm sắc thái riêng biệt.Người ta gọi đoạn thơ này là bứt tranh” tứ bình” có lẽ
là vì điều đó. Trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du cũng đã hơn một lần nói
đến nghệ thuật tứ bình:
“Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang
xuân”
Với
Tố Hữu người đọc thú vị băt gặp không chỉ tứ bình thiên nhiên mà còn là tứ bình
nỗi nhớ.
Đầu
tiên là bứt tranh tả mùa đông. Mùa đông được thể hiện qua những sắc màu và tín
hiệu rất độc đáo” Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”.Cách phối màu hết sức thú vị đã
mở ra một không gian rộng lớn.Trên nền xanh mênh mông bạt ngàn của rừng núi nổi
bật lên là những bông hoa chuối đỏ, thấp thoáng đột ngột hiện lên như ngon lửa,
đốt lên sáng rực gợi lên sự ấm áp, lan tỏa khắp những cánh rừng Việt Bắc khiến
thiên nhiên trở nên gần gũi thân thiết với con người hơn.
Thơ
nên hoa đã làm hiện lên vẻ đẹp hoang sơ, tráng lệ của rừng. Chọn điểm nhỏ nhất
thì sức sống càng lớn hơn nên câu thơ có sự mập mờ, nhấp nháy hình ảnh và cảnh
vật vốn tỉnh lặng, tỉnh mịch bỗng bùng lên sức sống và chuyển động.
Khi
mùa xuân đến” mơ nở trắng rừng” bức tranh từ gam màu nóng của hoa chuối giờ lại
chuyển sang gam màu lạnh của hoa mơ, cánh rừng bạt ngàn được phủ một màu trắng
tinh khiết của hoa mơ gợi cảm giác thơ mộng và bâng khuâng, một sức sống bừng
dậy” trắng rừng” làm thay đổi cảnh chiến khu.Động từ “nở” khiến màu sắc cảnh
vật như đang vận động.”Trắng” và”nở” đi với nhau thật thú vị gợi lên những giấc
mơ đẹp khi mùa xuân về.
Công
việc thường nhật của người nông dân là làm lụng từ sáng sớm tinh sương đã dắt
trâu, vác cày ra ngoài đồng ruộng, họ lao động cần cù chăm chỉ, đến khi trời
tối họ cùng nhau ra về. Chỉ tiêng vào mùa hè, khi nghe tiếng ve kêu trên những
vách núi là trời đã tối. Tiếng ve đã trở thành vẻ đặc trưng của mùa hè không
biết tự lúc nào.Tố Hữu thật tài tình khi dùng tiếng ve để báo hiệu mùa hè đã
đến:
“Ve
kêu rừng phách đổ vàng”
Chỉ
có Việt Bắc mới có rừng phách vàng rực trong mùa hè đây là nét đặc trưng riêng
biệt nhất. Câu thơ mang âm hưởng rất riêng của tiếng ve và khỏe dạo lên một
giai điệu hè giữa núi rừng Việt Bắc.Người cán bộ kháng chiến có thể thấy rừng
đang chuyển sang màu nắng và tiếng ve kêu rôm ran.Động từ “đổ”khiến ta liên
tưởng sự đột ngột và lan nhanh một cách chớp nhoáng. Gợi cho ta nhớ đến câu thơ
của Xuân Diệu trong bài thơ “Duyên”
“Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi
nơi động tiếng huyền”
Trăng tròn và đẹp
nhất là trăng mùa thu. Vào mùa này ngày mười lăm tháng tám âm lịch đã trở thành
Tết trung thu của người dân Việt Nam.Trẻ con cầm lồng đền chạy khắp phố phường,
làng xóm, người lớn thì quây quân bên nhau uống trà thưởng nguyệt…Nhộn nhịp
nhất vẫn là những đội múa lân trổ tài, tiếng trống rộn ràng, những điệu múa
điêu luyện được người múa thể hiện khéo léo.Với mùa thu chiến khu tác giả đã
mượn”ánh trăng”để tả vẻ đẹp nơi đây:
“Rừng
thu trăng rọi hòa bình”
Bình
yên và tỉnh lặng cảnh vật huyền ảo câu thơ mở ra hai chiều không gian.Rừng thu
mở ra chiều rộng của mặt đất”trăng rọi” kẻ một đường thẳng vút lên trời không gian thu
bổng trở nên bát ngát hơn trong ánh sáng như thực như mơ.Rừng, núi đá, khe
suối” bản khói cùng sương” càng dáng yêu hơn
dưới ánh trăng dịu mát.Ta lại bồi hồi nhớ đến câu thơ trăng của Việt Bắc những
năm đầu kháng chiến:
“Trăng
lồng cổ thụ, bống lồng hoa”
(Cảnh
khuya)
Một
bức tranh thiên nhiên tươi sáng, gợi cảm thơ mộng và đầy màu sắc thẩm mỹ.Mỗi
câu thơ là một phong cảnh với muôn màu và nét vẻ tài hoa.Màu xanh của rừng già,
màu đỏ của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ khi xuân đến màu vàng rưc rỡ
của sắc màu mùa hạ, màu xanh hoa bình
dịu mát của ánh trắng thu. Nghệ thuật phối sắc tài tình của Tố Hữu trong miêu
tả đã làm hiện lên bứt tranh thiên nhiên tươi đẹp, đầy sức sống như Bác Hồ đã
viết:
“
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay”
Đan
xen vẻ đẹp của thiên nhiên là hoạt động của con người. Thiên nhiên đã làm nền
cho vẻ đẹp của con người Vây bắc.Gắn với mùa đông là chàng trai lực lưởng có dao gai thắt lưng đi rừng, lội
suối, trèo đèo bắt ánh nắng loáng sáng rực rỡ thật thú vị.Con người kháng chiến
mang tầm vóc thời đại là người sản xuất hay người chiến sĩ đều trong tư thế hào
hùng:
“
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá nguy trang veo với gió đèo”
(
Lên Tây tiến)
Thi sĩ đã bổ sung cho
thiên nhiên một mặt trời con người, người làm chủ thiên nhiên.
Mùa xuân ! lại
không thể nào thiếu được hình ảnh người thiếu nữ đan nón”chuốt từng sợi giong”
đây là nghề khá nổi tiếng ở Tây Bắc.Để làm nên những chiếc nón vừa đẹp vừa chắc
người phụ nữ đã gắng công, làm tỉ mỉ và khéo léo.Động từ “chuốt” đã cho ta thấy
được điều đó.Qua đây tác giả cũng cho ta biết con người Tây Bắc luôn luôn cần
cù, tỉ mỉ và sáng tạo trong công việc của mình.
Mùa
hè! Hình ảnh cô giái hiện lên thấp thoáng trong những lặng tre. Ta tự hỏi cô ấy
làm gì nhỉ? Tác giả trả lời bằng câu thơ
“Nhớ
cô em gái hái măng một mình”
Hóa
ra cô gái ấy đang hái măng.Nhưng sao lại một mình? Là phận nữ nhi giữa núi rừng
hoang vu, hiểm trở thế này? Ắt hẳn muốn để tự nhân vật khẳng định vai trò của
mình .Cô thiếu nữ Tây Bắc ấy không chỉ làm chủ được thiên nhiên mà còn chủ động
trong công việc của mình.
Giữa
rừng núi Tâu Bắc mà Quang Dũng từng tả “ oai linh thác gầm thét”,”cọp trêu
người”, chỉ một mình nhưng cô không cảm thấy cô đơn và sợ hãi.
Câu
thơ này hay ở vần điệu, sự hiệp vần”gái-hái”(vồm lưng) và cách sử dụng phụ âm
“m” liên tiếp các từ”măng- một-mình” tạo cho câu thơ đa thanh, mang tính nhạc
hấp dẫn.
Đẹp
nhất và da diết nhất trong nỗi nhớ con người là tiếng hát:
“Nhớ
ai tiếng hát ân tình thủy chung”
Nhà
thơ nhớ tiếng hát du dương mà lắng nghe lòng người đọng tiếng hát.Đó là cách
lắng nghe rất tinh tế và sâu sắc.”Ân tình thủy chung” là gốc vẽ đạo lí dân
tộc:” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”,”Uống nước nhớ nguồn” đồng thời cũng là vẻ đẹp
cao quí tâm hồn Việt Bắc nghèo khó gian nan nhưng đầy tình nghĩa.
Đoạn
thơ dừng lại bức tranh cân đối, hài hòa cảnh và người.Động từ “nhớ” lặp đi lặp
lại nhiều lần, mỗi lần một sắc thái khác tăng dần theo góc độ đã được cụ thể
hơn nỗi nhớ duy nhất trong tấm lòng của người ra đi đối với thiên nhiên và con
người Việt Bắc.
Việt
Bắc là một bài thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việ Nam thời kháng chiến. Âm điệu trử
tình ca dao đến tả cảnh ngụ tình thật đặc sắc.Cảnh và người đều đẹp và đáng yêu
mang sức sống và khí thế của thời đại mới.Cấu trúc tứ bình cổ điển đẹp,cân
xứng, hài hòa cho ta nhiều ấn tượng và cảm xúc thẩm mĩ. Đoạn thơ cũng là tấm
lòng , tiếng lòng của người cán bộ kháng chiến đối với Việt Bắc quê hương Cách
mạng xây dựng nên Cộng Hòa.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét