Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

Bài viết của học sinh



TÍNH TRỮ TÌNH TRONG BÀI THƠ VIỆT BẮC CỦA TỐ HỮU  
 Nông Thị Tuyền -12A               
Việt bắc là một trong những bài thơ hay của Tố Hữu.Lời thơ là khúc hát thiết tha, ân tình và đằm thắm. Là tái hiện của một thời Cách Mạng và kháng chiến gian khổ và hào hùng. Bên cạnh nét hoành tráng đậm chất sử thi ấy là vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc sống đời thực của con người Tây Bắc.

                        Tố Hữu được biết đến là một trong số nhà thơ nổi tiếng đi đầu của văn học Việt Nam trong thời kì kháng chiến. Là tác giả của nhiều bài thơ theo lối trử tình nhập vai với các tác phẩm Bầm ơi, Phá đường …Nhưng có lẻ rằng Việt Bắc là một bài thơ ngọt ngào tha thiết và điêu luyện hơn cả.Bài thơ viết nhân sự kiện Cơ quan trung ương Đảng và Chính phủ ta rời chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội, bài thơ được in trong tập thơ cùng tên vào năm 1954.

                        Việt Bắc được chúng ta biết đến là một địa danh lich sử Cách Mạng nổi tiếng. Nơi đây là vùng núi xa xôi có địa hình hiểm trở và hẻo lánh của Tổ Quốc.

                        Bài thơ hồi tưởng cảnh chia li của đồng bào Việt Bắc với chiến sĩ miền xuôi. Việt Bắc! Cũng tại nơi đây họ gắng bó với nhau, cùng nhau sản xuất, chiến đấu, tình cảm mỗi lúc một thắm thiết hơn, nó không chỉ đơn thuần là tình cảm của người ra tiền tuyến và người hậu phương, mà đã trở thành tình cảm của những người con trong một gia đình.

                        “Mình “ và “ ta” là lời giao duyên của chàng trai và cô gái trong ngày hội nón thúng vai thao, lời trao tình vừa tình cảm, vừa thân thiết ấm áp mà gần gũi. Cứ tưởng rằng “Mình “ và “ ta” chỉ dành riêng cho tình yêu nhưng nó đã trở thành lối xưng ho của những người đồng chí luôn sống chết có nhau, chung một chiến hào. Tác giả đã sử dụng “mình  ta” một cách khéo léo và có tính chất phiếm chỉ (giữa người dân Tây Bắc và cán bộ miền xuôi).

                                                            “Mình về mình có nhớ ta

                                                Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”

                        Câu thơ cất lên: “Mười lăm năm ” gợi cho ta nhớ đến Truyện Kiều của Nguyễn Du đó là thời gian lưu lạc đầy gian truôn, vất vả và tủi nhục của Thúy Kiều một “ Hồng nhan bạc mệnh” .Nhưng ở đây “Mười lăm năm ” lại được hiểu là khoảng thời gian dài của chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc,cùng tựa vai dệt nên những kỉ niệm khó quên trong những ngày tháng gian khổ từ 1941 đến 1954.

 Nhưng …thực tại thật trớ trêu…chỉ chốc lác nữa thôi họ lại phải xa nhau…

                        Người đi, kể ở đều bồi hồi , xao xuyến

                                    Tiếng ai tha thiết bên cồn

                        Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

                                    Aó chàm đưa buổi phân li

                        Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Mắt là cửa sổ tâm hồn của con người, nhìn đôi mắt họ có thể nhận ra cảm xúc và suy nghĩ của nhau. Chính vì quá nghện ngào, lưu luyến họ không thể nói thành lời nên đã gửi lời nhắn như của mình qua ánh mắt.

Ai cũng vậy khi xa người thân yêu sẽ lưu giữ trong mình những kỷ niệm đẹp. Người ra đi họ không thể nào quên tình nghĩa đồng bào nơi đây đặc biệt là bứt tranh thiên nhiên đẹp như hoa này.

Khi đọc bài thơ mỗi chúng ta hẳn ai cũng hình dung ra vẻ đẹp tuyệt diệu và đầy hoan sơ nhưng lại toát lên vẻ tươi tắn và mượt mà của núi rừng Việt Bắc đẹp đẽ tươi sáng thơ mộng và tràng đầy sưc sống.

Trong bứt tranh thiên nhiên bốn mùa của Việt Bắc. Cảnh và người hòa nguyện vào nhau tạo nên đặc điểm sắc thái riêng biệt.Người ta gọi đoạn thơ này là bứt tranh” tứ bình” có lẽ là vì điều đó. Trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du cũng đã hơn một lần nói đến nghệ thuật tứ bình:

                        “Sen tàn cúc lại nở hoa

            Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân”

                        Với Tố Hữu người đọc thú vị băt gặp không chỉ tứ bình thiên nhiên mà còn là tứ bình nỗi nhớ.

                        Đầu tiên là bứt tranh tả mùa đông. Mùa đông được thể hiện qua những sắc màu và tín hiệu rất độc đáo” Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”.Cách phối màu hết sức thú vị đã mở ra một không gian rộng lớn.Trên nền xanh mênh mông bạt ngàn của rừng núi nổi bật lên là những bông hoa chuối đỏ, thấp thoáng đột ngột hiện lên như ngon lửa, đốt lên sáng rực gợi lên sự ấm áp, lan tỏa khắp những cánh rừng Việt Bắc khiến thiên nhiên trở nên gần gũi thân thiết với con người hơn.

                        Thơ nên hoa đã làm hiện lên vẻ đẹp hoang sơ, tráng lệ của rừng. Chọn điểm nhỏ nhất thì sức sống càng lớn hơn nên câu thơ có sự mập mờ, nhấp nháy hình ảnh và cảnh vật vốn tỉnh lặng, tỉnh mịch bỗng bùng lên sức sống và chuyển động.

                        Khi mùa xuân đến” mơ nở trắng rừng” bức tranh từ gam màu nóng của hoa chuối giờ lại chuyển sang gam màu lạnh của hoa mơ, cánh rừng bạt ngàn được phủ một màu trắng tinh khiết của hoa mơ gợi cảm giác thơ mộng và bâng khuâng, một sức sống bừng dậy” trắng rừng” làm thay đổi cảnh chiến khu.Động từ “nở” khiến màu sắc cảnh vật như đang vận động.”Trắng” và”nở” đi với nhau thật thú vị gợi lên những giấc mơ đẹp khi mùa xuân về.

                        Công việc thường nhật của người nông dân là làm lụng từ sáng sớm tinh sương đã dắt trâu, vác cày ra ngoài đồng ruộng, họ lao động cần cù chăm chỉ, đến khi trời tối họ cùng nhau ra về. Chỉ tiêng vào mùa hè, khi nghe tiếng ve kêu trên những vách núi là trời đã tối. Tiếng ve đã trở thành vẻ đặc trưng của mùa hè không biết tự lúc nào.Tố Hữu thật tài tình khi dùng tiếng ve để báo hiệu mùa hè đã đến:

                                    “Ve kêu rừng phách đổ vàng”

                        Chỉ có Việt Bắc mới có rừng phách vàng rực trong mùa hè đây là nét đặc trưng riêng biệt nhất. Câu thơ mang âm hưởng rất riêng của tiếng ve và khỏe dạo lên một giai điệu hè giữa núi rừng Việt Bắc.Người cán bộ kháng chiến có thể thấy rừng đang chuyển sang màu nắng và tiếng ve kêu rôm ran.Động từ “đổ”khiến ta liên tưởng sự đột ngột và lan nhanh một cách chớp nhoáng. Gợi cho ta nhớ đến câu thơ của Xuân Diệu trong bài thơ “Duyên”

                                    “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá

                                    Thu đến nơi nơi động tiếng huyền”

                        Trăng tròn và đẹp nhất là trăng mùa thu. Vào mùa này ngày mười lăm tháng tám âm lịch đã trở thành Tết trung thu của người dân Việt Nam.Trẻ con cầm lồng đền chạy khắp phố phường, làng xóm, người lớn thì quây quân bên nhau uống trà thưởng nguyệt…Nhộn nhịp nhất vẫn là những đội múa lân trổ tài, tiếng trống rộn ràng, những điệu múa điêu luyện được người múa thể hiện khéo léo.Với mùa thu chiến khu tác giả đã mượn”ánh trăng”để tả vẻ đẹp nơi đây:

                                    “Rừng thu trăng rọi hòa bình”

                        Bình yên và tỉnh lặng cảnh vật huyền ảo câu thơ mở ra hai chiều không gian.Rừng thu mở ra chiều rộng của mặt đất”trăng rọi”  kẻ một đường thẳng vút lên trời không gian thu bổng trở nên bát ngát hơn trong ánh sáng như thực như mơ.Rừng, núi đá, khe suối” bản khói cùng sương” càng dáng yêu hơn dưới ánh trăng dịu mát.Ta lại bồi hồi nhớ đến câu thơ trăng của Việt Bắc những năm đầu kháng chiến:

                                    “Trăng lồng cổ thụ, bống lồng hoa”

                                                                        (Cảnh khuya)

                        Một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, gợi cảm thơ mộng và đầy màu sắc thẩm mỹ.Mỗi câu thơ là một phong cảnh với muôn màu và nét vẻ tài hoa.Màu xanh của rừng già, màu đỏ của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ khi xuân đến màu vàng rưc rỡ của  sắc màu mùa hạ, màu xanh hoa bình dịu mát của ánh trắng thu. Nghệ thuật phối sắc tài tình của Tố Hữu trong miêu tả đã làm hiện lên bứt tranh thiên nhiên tươi đẹp, đầy sức sống như Bác Hồ đã viết:

                                    “ Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay”

                        Đan xen vẻ đẹp của thiên nhiên là hoạt động của con người. Thiên nhiên đã làm nền cho vẻ đẹp của con người Vây bắc.Gắn với mùa đông là chàng trai  lực lưởng có dao gai thắt lưng đi rừng, lội suối, trèo đèo bắt ánh nắng loáng sáng rực rỡ thật thú vị.Con người kháng chiến mang tầm vóc thời đại là người sản xuất hay người chiến sĩ đều trong tư thế hào hùng:

                                    “ Núi không đè nổi vai vươn tới

                                    Lá nguy trang veo với gió đèo”

                                                            ( Lên Tây tiến)

                        Thi sĩ đã bổ sung cho thiên nhiên một mặt trời con người, người làm chủ thiên nhiên.

                        Mùa xuân ! lại không thể nào thiếu được hình ảnh người thiếu nữ đan nón”chuốt từng sợi giong” đây là nghề khá nổi tiếng ở Tây Bắc.Để làm nên những chiếc nón vừa đẹp vừa chắc người phụ nữ đã gắng công, làm tỉ mỉ và khéo léo.Động từ “chuốt” đã cho ta thấy được điều đó.Qua đây tác giả cũng cho ta biết con người Tây Bắc luôn luôn cần cù, tỉ mỉ và sáng tạo trong công việc của mình.

                        Mùa hè! Hình ảnh cô giái hiện lên thấp thoáng trong những lặng tre. Ta tự hỏi cô ấy làm gì nhỉ? Tác giả trả lời bằng câu thơ

                                    “Nhớ cô em gái hái măng một mình”

                        Hóa ra cô gái ấy đang hái măng.Nhưng sao lại một mình? Là phận nữ nhi giữa núi rừng hoang vu, hiểm trở thế này? Ắt hẳn muốn để tự nhân vật khẳng định vai trò của mình .Cô thiếu nữ Tây Bắc ấy không chỉ làm chủ được thiên nhiên mà còn chủ động trong công việc của mình.

                        Giữa rừng núi Tâu Bắc mà Quang Dũng từng tả “ oai linh thác gầm thét”,”cọp trêu người”, chỉ một mình nhưng cô không cảm thấy cô đơn và sợ hãi.

                        Câu thơ này hay ở vần điệu, sự hiệp vần”gái-hái”(vồm lưng) và cách sử dụng phụ âm “m” liên tiếp các từ”măng- một-mình” tạo cho câu thơ đa thanh, mang tính nhạc hấp dẫn.

                        Đẹp nhất và da diết nhất trong nỗi nhớ con người là tiếng hát:

                                    “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

                        Nhà thơ nhớ tiếng hát du dương mà lắng nghe lòng người đọng tiếng hát.Đó là cách lắng nghe rất tinh tế và sâu sắc.”Ân tình thủy chung” là gốc vẽ đạo lí dân tộc:” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”,”Uống nước nhớ nguồn” đồng thời cũng là vẻ đẹp cao quí tâm hồn Việt Bắc nghèo khó gian nan nhưng đầy tình nghĩa.

                        Đoạn thơ dừng lại bức tranh cân đối, hài hòa cảnh và người.Động từ “nhớ” lặp đi lặp lại nhiều lần, mỗi lần một sắc thái khác tăng dần theo góc độ đã được cụ thể hơn nỗi nhớ duy nhất trong tấm lòng của người ra đi đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc.

                        Việt Bắc là một bài thơ tiêu biểu trong nền thơ ca Việ Nam thời kháng chiến. Âm điệu trử tình ca dao đến tả cảnh ngụ tình thật đặc sắc.Cảnh và người đều đẹp và đáng yêu mang sức sống và khí thế của thời đại mới.Cấu trúc tứ bình cổ điển đẹp,cân xứng, hài hòa cho ta nhiều ấn tượng và cảm xúc thẩm mĩ. Đoạn thơ cũng là tấm lòng , tiếng lòng của người cán bộ kháng chiến đối với Việt Bắc quê hương Cách mạng xây dựng nên Cộng Hòa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét